Chào mừng quý vị đến với Website của Nguyễn Kỳ Anh Vũ.
Nhuận sắc Đoạn Trường Vô Thanh = Nguồn: Phạm Thiên Thư, Đoạn trường vô thanh, NXB Văn Nghệ, 2006
I. Xưa là giọt lệ (Phạm Thiên Thư, Việt Nam)
Đoạn trường
Sổ gói tên hoa
Xưa là giọt lệ nay là hạt châu
Vô thanh như tiếng reo ca bát ngát của nhật nguyệt khiến giọt lệ Vương Thuý Kiều trở thành sợi mây hồng cất cánh vèo bay qua tài mệnh nhị tướng kết nên hạt minh châu viên xá lợi của bậc nguyện vào địa ngục là thái độ tịch nhiên sấm sét của người vác thập tự trong cuộc đoạn trường là vòm trời xanh biếc Việt tính khai mở sau thi hào Nguyễn Du chiếc cầu hư ảo khói sương đưa giả tướng ngôn ngữ rã rời trong một vài trống canh mua vui dưới ngọn Hồng Lĩnh trên ba ngàn dòng thơ cô đọng cỏ hoa sau ba mươi năm tơ tưởng Thuý Kiều và thưa: Những hạt lệ đã nổi cánh thiên hương.
25-7-1972
Phạm Thiên Thư
Nhuận sắc
Đoạn Trường Vô Thanh
Một đêm nằm mơ, ở đất Tân Bình - gặp Người Đẹp tặng tấm gương soi và cây bút. Tỉnh dậy, mới biết ấp trang Vô Thanh trên ngực mà ngủ quên - Tự nghĩ mặt mày mỗi ngày còn phải rửa lại, huống chi là hư truyện đã viết cách nay trên hai mươi năm - đọc lại lắm chỗ chẳng được như lòng... Nên đêm nay, khêu đèn dầu hao, tựa mảnh trăng tròn hơn ngoài cửa, mượn Người Đẹp ngọn ý bút, nhuận sắc lại Vô Thanh, cốt để tự soi mình vậy - Nay thêm đôi dòng tạ tội.
21-4-1992
Phạm Thiên Thư
Bức thứ nhất:
(Giãi bày tâm thức,
Thuý Kiều sau cuộc đoạn trường)
Lòng như bát ngát mây xanh
Thân như sương tụ trên cành Đông mai
Cuộc đời - chớp loé, mưa bay
Càng đi, càng thấy dặm dài nỗi không
Thân Tâm Bệnh - nghiệp trần hồng
Lênh đênh trầm nguyệt, bềnh bồng phù vân
Giam trong Tài, Mệnh, Giả, Chân
Trăm năm hồ dễ một lần bay cao
Đau lòng chuốt tiếng đàn nao
Năm cung nước chảy lại chao phận mình (10)
Đời Kiều trải mấy nhục vinh
Ngã, Nhân đã vượt, thế tình đã qua
Đoạn Trường sổ gói tên Hoa
Xưa là Giọt Lệ - nay là Hạt Châu
Nguồn: Phạm Thiên Thư, Đoạn trường vô thanh, NXB Văn Nghệ, 2006
II. Sớm tếch bến hồng
Thơ » Việt Nam » Phạm Thiên Thư » Đoạn trường vô thanh » II. Sớm tếch bến hồng
Bức thứ hai:
(Thực chất tình yêu Kim, Kiều)
Đền nhau tơ tóc duyên đầu
Ba năm – trăng dãi hoa dầu thế thôi
Ý người – sóng nổi, mây trôi
Chốn xa tìm đến, đến rồi - lại đi
Hiên Thu lần lữa cầm kỳ
Chén quỳnh lạnh rượu, câu thi biếng vần (20)
Trước còn nể nguyệt ươm Xuân
Lần hồi lối cũ sương ngần hạt sa
Kể từ hương lửa một nhà
Phôi pha - thì nhớ, đậm đà - thì quên
Kiều xưa như suối qua triền
Rêu khô lệ đợi, trăng phiền dáng theo
***
Ngựa dong, phố sớm, thôn chiều
Lang thang vó rụng, tiêu điều bụi bay
Chàng Kim dường tỉnh dường say
Mây xuôi nhớ tóc, hoa lay nhớ người (30)
Mười lăm năm lại đơm tươi
Duyên may, bọt sóng chim trời gặp nhau
Lan xưa in đáy dòng sầu
Trách chi con suối nhạt màu thời gian
Trăng nao man mác tơ đàn
Chừ nghe hờ hững đôi làn khói bay
Lò trầm ai chửa ngừng tay
Mà sao hơi lạnh như ngày mưa thưa
Vui giờ nuối cái buồn xưa
Chút gì để nhớ, để chờ, để không... (40)
Tưởng đàn nối nhịp tơ đồng
Thuyền trăng sớm tếch bến hồng bay lên
Chơi vơi trong cõi diệu huyền
Đời Kiều dệt một trường thiên tuyệt vời
Nguồn: Phạm Thiên Thư, Đoạn trường vô thanh, NXB Văn Nghệ, 2006
III. Ruổi rong nhật nguyệt
Thơ » Việt Nam » Phạm Thiên Thư » Đoạn trường vô thanh » III. Ruổi rong nhật nguyệt
Bức thứ ba:
(Vẽ cuộc du sơn, Kiều nhìn đôi hài của mình,
ngộ ra mọi cuộc tìm kiếm bi đát của kiếp người)
Nửa Thu nhân tiết đẹp trời
Non nghiêng - bút dựng, mây dời - mực sa
Thênh thang cáng gấm, tàn hoa
Chàng Kim ngựa trước, áo nhoà sắc cây
Một nhà lên núi xem mây
Rèm thưa hoa động, dấu giày sương đơm (50)
Kiệu dừng bãi núi cỏ thơm
Lên cao mới biết là đường quanh co
Giải sông xanh vẳng câu hò
Lau vàng thấp thoáng cánh cò về trưa
Bà Vương chỉ áng mây đưa:
Chân trời mờ mịt, quê xưa chốn nào
Cuối thu hẳn chớm bông đào
Vườn ta – ai biết giờ vào tay ai
Thân già như hạt sương mai
Cố thôn liệu có còn vài đêm huyên (60)
Vân thưa: Trăm nhớ ngàn phiền
Nhắc chi chuyện cũ, hồ quên bấy ngày
Kim rằng: Sương nổi hoa lay
Cố hương tưởng gợn gió may rùng mình
Lời xưa "Đất dưỡng, trời sinh"
Không ơn ngô lúa, cũng tình trầu cau
Kiều nghe, môi điểm khoé sầu
Vời trông cái nhạn về đâu tít mù
Rừng vàng hiu hắt hơi Thu
Ngàn hoa vẳng tiếng chim gù thiết tha (70)
Đầu sông dằng dặc sóng xa
Chèo ai nhẹ lướt la đà khói giăng
Tay Kiều rẽ lối sương băng
Mắt nàng ẩn nửa viền trăng dõi buồn
Đá triền tựa ngó mây tuôn
Bông may cỏ úa nẻo buồn hắt hiu
Lưng non nhàn nhạt nắng chiều
Trông hài mình - nhớ bao nhiêu dặm trường
***
Tưởng Từ - yên ngựa thanh gươm
Ruổi rong nhật nguyệt, bốn phương là nhà (80)
Tưởng mình - thưở lỡ chân sa
Cành nghiêng, suối nhận kiếp hoa lạc loài
Kim thì lẽo đẽo thiên nhai
Mây bay gió thoảng, dấu ai mà tìm
Mịt mờ cồn cát chân chim
Lòng riêng hỏi mảnh trăng im cuối đường
Rã rời bao dấu hài vương
Gặp chi trong cuộc vô thường mà mong
Cõi sầu sao rộng mênh mông
Tìm đâu một chốn bụi hồng dung thân (90)
***
Chợt nghe tiếng trẻ trong ngần
Trông lên Tiểu Nguyện đang lần bước hoa: (*)
Con tìm bá mẫu gần xa
Bây giờ mới biết mẹ qua chốn này
Kiều vời, bảo: Nguyện ngồi đây
Con ơi! Thử nắm bóng mây xem nào
Trẻ reo: mẹ bắt được sao?
Nàng cười, ôm Nguyện nghiêng vào vòng tay
Chẳng ai bắt được mây bay
Đêm đêm lơ lửng, ngày ngày lang thang (100)
Khác chi cánh bướm nhuỵ vàng
Tìm bay vơ vẩn dưới tàng hoa thơm
***
Thôn xa giải khói nhoà hơn
Tà dương thẫm mảnh thâm sơn cuối trời
Thoảng đưa tiếng gọi tiếng mời
A hoàn tìm đến, mở lời cung nghinh
Bẩm thưa: Quan sắp đăng trình
Thỉnh bà lên kiệu, về dinh kịp đoàn
***
Sông Thu uốn lọn tơ vàng
Bèo xuôi biêng biếc, sóng vang dập dìu (110)
Chim di xao xác đường chiều
Dường tha lác đác ít nhiều hạt sương
Non nghiêng vách tía trời hường
Sau lưng cửa núi mây vương mịt mờ
(*) Tiểu Nguyện: con gái Thuý Vân với Kim Trọng.
Nguồn: Phạm Thiên Thư, Đoạn trường vô thanh, NXB Văn Nghệ, 2006
IV. Bông chờ bên sông
Thơ » Việt Nam » Phạm Thiên Thư » Đoạn trường vô thanh » IV. Bông chờ bên sông
Bức thứ tư:
(Kiều ngồi tựa hiên trăng mơ thấy
bay lên như cánh hạc trời
trong âm đàn chưa dứt tắt của lòng nàng).
Kiều ngồi ngó mảnh trăng tơ
Chùm sao Thu nở bông chờ bên sông
Mênh mang dặm biếc cồn hồng
Cúc tươi cánh nguyệt, liễu lồng tơ mây
Phòng Thu trầm biếng hương gây
Vườn trăng thêu nhạt dấu hài lối hoa (120)
Côn trùng ri rả âm ba
Gió đêm lãng đãng mưa ngà tơ phơi
Dường trong hiu hắt Thu hơi
Thôn sương chầy nguyệt cũng lơi nhịp sầu
Đò đưa ai hát qua cầu
Tiếng ca cùng nước sông mau lạnh lùng
Lầu mai từ thưở tơ chùng
Tay lan khép gió, năm cung bụi dày
Đêm đêm nhớ ngón tơ này
Đã từng đưa lá thuyền say sóng nhồi (130)
Mà lòng âm hưởng chưa thôi
Những khi quạnh quẽ - bồi hồi sóng thiêng
Cây dài bóng xế nghiêng nghiêng
Kiều ngồi xoã tóc trên thềm hương đưa
Có trăng chia sẻ đời thừa
Tình riêng - trăng tỏ bây giờ không trăng
Nào đêm lối đẫm vườn băng
Nào lầu khoá nguyệt giam hằng, thở than
Nào Từ cưỡi gió quan san
Mảnh trăng tri kỷ chưa tàn lòng nhau (140)
Từ ngày nguyền bỏ tơ đau
Trăng cài liễu tưởng - phím sầu quạnh thêm
***
Kiều đang chìm lắng nỗi niềm
Dế im tiếng gọi - Kim thềm dáng ai
Áo nào nguyệt giải sương phai
Ngập ngừng bên giậu, hoa cài gió quanh
Vườn sao lại rẽ hài xanh
Riêng thềm tựa mộng, thiếp cành hoa xinh
***
Gió đưa phảng phất hương quỳnh
Ướp con bướm mộng vô tình lại đây (150)
Trăng vàng chênh mái hiên Tây
Khoé tiên dìu dịu, bóng cây vật vờ
Duới hoa thấp thoáng giọt tơ
Ánh sao le lói vương bờ tóc bay
Mi Kiều rũ nét lan say
Thiếp đi mộng thực phương này là đâu
***
Lên non mây trắng lợp đầu
Vờn bay theo ngọn cờ lau xạc xào
Hai bên thắm lý tươi đào
Kiều như cánh hạc bay vào phù vân (160)
Cỏ vàng lấp mấy dòng chân
Sáo tiên hoà với, đàn thần du dương
Bỗng dưng biêng biếc non suơng
Thành cây cầu lửng mây vương mịt mờ
Trước sau chẳng bến chẳng bờ
Bước chân theo tiếng trúc tơ dặt dìu
Bâng khuâng trăm nỗi lòng Kiều
Như dòng thơ nhẹ phiêu diêu ngang trời
Chừng đâu sương cuộn mây dời
Chừng đâu hạc ruổi hoa rơi mấy từng (170)
Lênh đênh lả cánh lan rừng
Nửa đêm chợt tỉnh ngó vừng trăng nghiêng
Lòng Kiều mang mác nỗi riêng
Nào hay thoáng mộng ứng điềm chi đây
***
Chân rời hiên nguyệt mái Tây
Lò trầm khơi lửa bao ngày than trơ
Lặng nhìn sợi khói ngẩn ngơ
Còn leo lên ngọn mây mờ nữa sao
Cây cầu lửng giữa trăng sao
Phải chăng - cửa ngõ đi vào huyền căn (180)
***
Tiếng tơ kết kén ôm tằm
Biết đâu hoá bướm - trăm năm một lần
Nhớ nàng ứng mộng đêm xuân
Giục nhau trả hết nợ nần bụi vuơng
Sông xanh giở sổ đoạn trường
Sóng đàn ơi, trả phím hường nổi trôi
Tưởng đâu xác dạt sóng nhồi
Hồn theo nước chảy bồi hồi tình xưa
Đâu ngờ cái số hạt mưa
Còn dài như một âm thừa chưa nguôi (190)
Tưởng cung nguyệt trổ hoa tươi
Nào hay mười ngón nước xuôi bẽ bàng
Từ đêm vắng bặt tơ đàn
Nợ nần ngày cũ chưa tan sợi nào
Mông Thu phơ phất hiên đào
Cầu mây còn bắc lối vào sông trăng
Lụa ngà thẫm lệ hoen khăn
Gà đâu tiếng gáy đã rần ngõ hoa
Nguồn: Phạm Thiên Thư, Đoạn trường vô thanh, NXB Văn Nghệ, 2006
V. So dây sóng gợn
Thơ » Việt Nam » Phạm Thiên Thư » Đoạn trường vô thanh » V. So dây sóng gợn
Bức thứ năm:
(Kiều lại dùng đàn giải buồn, thì Kim Trọng
tới thăm kể về cái chết kiên cuờng của một
dư đảng Từ Hải với cây đàn đeo bên người)
Tơ chùng tưởng cuốn mưa sa
Hiên văn khép mở phên hoa khói trầm (200)
Bao năm vùi giữa cát lầm
Như cành sen trổ trong đầm hạ xanh
Giờ Kiều lại nối âm thanh
Thử đem sương gió tựu thành cung dây
Tiếng đàn rã liễu rời mây
Ngón tay dã hạc vờn bay dặt dìu
Hai hàng lau lách đìu hiu
Đồi phong lá gọi bóng chiều xác xao
Hạt đàn tấm tức nao nao
Suối tuôn mạch đá đau bào lòng non (210)
Lơ thơ hoa trải đường mòn
Bâng khuâng ráng đỏ theo con nhạn về
Năm cung da diết đê mê
Nắng hoen thềm phấn, mây kề song hương
Ngón cong - đàn trổ nụ hường
Ngón xuôi - tơ rụng, hoa vương mấy dòng
Bước đàn cao thấp long đong
Dư ba tóc biếc mơ mòng liễu xanh
Lòng nào thoảng khói mong manh
Lệ rơi ánh mắt tan tành sầu oan (220)
Lúc thì như điếng, như tan
Lúc thì phiêu lãng như làn trầm bay
Hoá thân vào mấy cung dây
Lửng lơ mây nhạc, vơi đầy dòng thơ
***
Chàng Kim giải mũ phất phơ
Khi chau ngàn liễu, khi chờ non trăng
Tiếng đàn im bặt dòng băng
Sân ngoài chàng mới xin rằng: Tự nhiên
Tóc vương tay nhuỵ băng nguyên
Khoé môi khép nép nửa viền mận tươi (230)
Kiều thưa: Mấy tiếng tơ lơi
Tưởng đâu dừng phím như lời nguyền xưa
Lòng riêng chưa tắt âm thừa
Chiều nay lại rũ tiếng mưa giang hà
Mải mê nào biết đâu là
Nhóm hương cung thỉnh lên nhà thưởng âm
***
Kim rằng: Thăm gác Mai Trầm
Dưới hoa tơ vẳng sương thầm hạt say
Mái Đông tìm ghé nơi này
Bên thềm nghe vẳng tơ bay dặt dìu (240)
Mà sao hiu hắt muôn chiều
So tơ xưa lại tiêu điều sầu hong
Hay ta đòi đoạn việc công
Chiều nay nghe thoáng nên lòng cảm ra
Xin nàng thêm khúc tài hoa
Thử xem thanh ứng có là khác hơn
***
Hương trà đôi chén khay sơn
So dây sóng gợn lòng đờn lại tươi
Hồn xanh xanh ngắt da trời
Hoa Thu não nuột rung mười ngón son (250)
Nửa cung ngơ ngác trăng non
Nửa cung nắng quái sông còn vàng phai
Chợt nghe Tiểu Nguyện reo ngoài:
"Đàn chi khiến nở thêm vài ngọn bông!"
Âm thừa gờn gợn mênh mông
Ngoài song thấp thoáng bóng hồng Thuý Vân
Cuối vườn cỏ úa, lui chân
Dắt con, chẳng dám cho gần dư ba
***
Dâng chàng thêm một tuần trà
Đèn khêu chênh mảnh gương ngà mái thơ (260)
Kiều thưa: Vụng rối cung tơ
Có buồn quân tử - xin nhờ lượng cao
Từ đây dù có thế nào
Tiếng đàn lại để rơi vào nguôi quên
***
Kim ngăn: Điều ấy chẳng nên
Vì ta bao mối ưu phiền đảm đương
Sáng nay ngồi trực công đường
Trọng hình xử phạt những phường bất nhân
Từ khi đất nổi sóng thần
Hiển dương thánh đức yên quân bạo tàn (270)
Bốn phương thành vững dân an
Giặc xưa lòng núi đáy hang ẩn mình
Như sương tan dưới bình minh
Trừ gian cứ việc gia hình thẳng tay
Huyện đường buổi sáng hôm nay
Loạn quân có một tên này - vì đâu
Trơ trơ lưng thẳng – nghênh đầu
"Rằng: Tà, Chính - để mai sau sẽ bàn!"
Sau lưng đeo một cây đàn
Dường như kỷ vật còn mang bên người (280)
Nói rồi, miệng ứa máu tươi
Mắt trừng uất khí, gã cười như điên
Khiến người nghe rợn ốc lên
Cười xong thì xác đổ liền - Kiên trung
Rõ là cái chết anh hùng
Khiến lòng ta mãi vô cùng xót xa
***
Kiều nghe rời rã tay hoa
Rưng rưng đặt chiếc tỳ bà cảm thương
Nàng thưa: Quả chuyện lạ thường
Khác chi da ngưa sa trường bọc thây (290)
Những trang nghĩa sĩ xưa nay
Ngại gì sinh tử chuyển xoay bụi hồng
Rượu thề bát máu pha chung
Thì trăm năm nguyện tấm lòng trăng soi
Đàn kia xin được lần coi
Dám nhờ quân tử cho đòi đưa sang
Hẳn nơi động biếc lau vàng
Tơ đàn ai đó còn vang vọng lời
Gật đầu, chuyện dễ như chơi
Nữa đây ta sẽ sai người đem dâng (300)
***
Chuông sương ngân vẳng mấy tầng
Gió lay dầu dãi một vầng hoa hương
Tiễn chàng cỏ lục vườn sương
Sao bay dòng tóc, lá vương dấu hài
Nguồn: Phạm Thiên Thư, Đoạn trường vô thanh, NXB Văn Nghệ, 2006
VI. Vương mấy tơ đồng
Thơ » Việt Nam » Phạm Thiên Thư » Đoạn trường vô thanh » VI. Vương mấy tơ đồng
Bức thứ sáu:
(Kiều mươn cây đàn xem - thì chính là cây đàn của
Từ Hải - còn mang dấu khắc bài thơ cảm tác của nàng,
nhân một đêm nghe tâm sự của Từ về cây đàn
của Trần Nguyện Mai - người yêu đã khuất của chàng
ở đất Châu Phong (Việt Nam) - và qua cây đàn này,
Từ Hải cũng được một Thiền sư dạy lẽ Vô Thanh)
Đèn khêu, cửa khép, ai hoài
Trầm thơm lò cũ, vắn dài hàng ngân
Đàn ơi! Tiếp tục tầm Xuân
Ngờ đâu có lúc quây quần ánh trăng
Còn dây tơ buốt lòng băng
Tìm đâu một cánh chim bằng đã qua (310)
Còn đây gỗ bạc trục ngà
Theo ai sương sớm giang hà những xưa
Còn dây xào xạc cung mưa
Đàn ơi kim cổ không bờ cách ngăn
Một chùm sao biếc hiên văn
Theo tay nhật nguyệt Kiều lăn hạt sầu
Thơ nàng - Từ khắc đôi câu
Bây giờ dấu kiếm còn sâu bụi làn
Nhớ người yên gió quan san
Vó tung chuyển đất, tiếng ran lệch trời (320)
Một hôm mắt nộ khí ngời
Ầm rung giọng sấm tột vời chí cao
Giận phường ô lại cường hào
Đùng đùng bão nổi, ào ào mây đi
Thanh gươm mở rộng biên thuỳ
Yên dân riêng cõi, triều nghi rỡ ràng
Cờ mây rợp, mặt trời vàng
Sao rung kiếm động, rừng vang hịch truyền
Rộng cho hoa cỏ truân chuyên
Quân cơ trướng gấm đòi phiên dự phần (330)
Nhớ đêm tạm gác việc quân
Nhìn cây đàn cũ, hỏi dần duyên do
Tơ chùng, trục bụi không so
Gỗ phai màu nắng - dậy cho lẽ nào
Dù trong muôn trận guơm đao
Đàn theo yên ngựa, ra vào như không?
Có chi vương mấy tơ đồng
Gửi cây đàn cũ - lòng mong đáp đền
***
Từ rằng: Hận chửa nguôi quên
Tấm thân còn đó, lời nguyền sao tan (340)
Vời trông đất cũ mây ngàn
Người xưa gửi nắm xương tàn khe sâu
Anh linh hoà ánh tinh cầu
Chừng nghe cây cỏ phai màu ngoài song
***
Ta từ quê cũ Châu Phong
Nếp nhà thư kiếm, Lạc Long dõi nguồn
Xuân xanh mười tám triêu dương
Thánh hiền chí vững, cung gươm tài lừng
Sơn hà - một đẫy sau lưng
Quyết thanh nội loạn, quyết trừng ngoại xâm (350)
Lửa hờn rèn chí nung tâm
Anh em tìm chốn sơn lâm dựa mình
Cõi biên vùng vẫy thân kình
Cờ toan mở gió triều đình một phương
Luỹ đồn rải rác non sương
Chiêu binh nghĩa dũng, liệu đường tiến quân
***
Duyên trời gặp một giai nhân
Cũng dòng thanh khí là Trần Nguyện Mai
Chí nàng toan mở cõi ngoài
Đèn chong gối sách, gươm mài ánh sao (360)
Dặm hồng vó bụi tung cao
Tóc xanh mây hạ, má đào hoa ban
Nặng vì Dân, Nước - lo toan
Lược Thao cùng với Thơ, Đàn sánh đôi
Khi ngày điều trận ven đồi
Khi đêm xướng hoạ, bồi hồi cầm thanh
Hai ta mở cõi dựng thành
Lòng người những muốn, trời xanh chẳng chiều
Một phen binh giáp tiêu điều
Vó bay theo vó, ngựa liều dặm băng (370)
Giặc như lớp lớp mây giăng
Phá tan đồn trại, san bằng luỹ tre
Gươm vung - sấm giựt, chớp loè
Hết xuyên bão nổi, lại đè sóng cao
Song song gái kiệt trai hào
Rừng gươm tên gió ra vào hai ta
Mở đường máu quyết thoát ra
Gió tan, hẹn dấy phong ba lại ngày
Vó tung vượt mấy trùng vây
Máu loang chân ngựa, non thây chật đồng (380)
Cánh chim chưa thoát khỏi lồng
Ngại ta chia trí, bận lòng ái ân
Trao đàn lại, giữa vòng quân
Vực sâu gieo nhẹ tấm thân tự tồn
Sói lang còn ngẩn ngơ hồn
Xuyên mây tiếng thét dập dồn giặc lui
Dựng bờm ngựa cũng bừng vui
Ầm ầm gió lớn cuộn vùi cỏ khô
Núi giàn thế hiểm lô xô
Một thân ngựa đạp trận đồ mà ra (390)
***
Yên dừng biên giới ngã ba
Thanh gươm bốn biển không nhà - về đâu
Năm ngàn nghĩa sĩ lạc nhau
Tình duyên thoảng đã qua cầu gió bay
Bốn phương biêng biếc ngàn mây
Dường như thừa một thân này chẳng dung
Nửa toan trở kiếm tranh hùng
Nửa toan tìm chốn núi rừng tụ quân
Cây đàn trên ngựa - phân vân
Bốn dây tay chợt buông ngân tiếng hờn (400)
Tiếng chi thác đổ mây vờn
Chừng nghe kiếm gãy xanh rờn lửa reo
Tiếng chi suối le tuôn theo
Chừng nghe sương tụ, gió heo hút trời
Chợt lưng non hiện bóng người
Tay nương Thiền trượng, tới nơi, giật mình
Thương nàng vì nước hy sinh
Ta đang thiếp mệt, tâm tình nát tan
Nhà sư cất tiếng hỏi han:
Ai kia ôm mối đoạn tràng đi đâu (410)
Vừa nghe như tỉnh lòng sầu
Xuống yên thi lễ, cúi đầu tỏ thưa
Thiền sư cười đáp: Ta chờ
Đã lâu, mới vẳng một tơ não nùng
Khác gì trống nổi trăng rung
Khác gì nhỏ lệ anh hùng dưới sao
Chí người như cánh chim cao
Lạ thay! Lòng lại giam vào hữu thanh
Cuộc đời - sương thoảng, mây nhanh
Có Không - hạt móc đầu cành nhẹ rơi (420)
Bao nhiêu đương thức loài người
Che đi nguyên tánh toả ngời tự thân
Muốn xoay chuyển lại cuộc trần
Phải đồng sức mạnh toàn dân vẫy vùng
Tay kia chẳng lướt năm cung
Cho dâu biển trổ muôn trùng trái hoa
Diệu hành - là tiếng Không Ta
Không thanh âm ấy mới là âm thanh
Dậy rồi, vóc hạc bay nhanh
Viền trăng vô tướng đầu cành trượng treo (430)
Lòng ta gió bão tan theo
Mây hồng phất phới trên đèo hào quang
Yên sương buộc chặt cây đàn
Hai mươi năm lẻ chưa tan lời nào
Tiếng thầm giục cánh chim cao
Ngựa phai sắc gió, chiến bào nhạt mây
Cây đàn - nàng mới hỏi đây
Là di chúc, lẫn lời Thầy - còn vương
***
Mốt mai ta bỏ sa trường
Sẽ đưa Kiều lại cố hương lần hồi (440)
Bên dòng suối ngắm hoa trôi
Cất gian lều nhỏ lưng đồi cỏ may
Xuống đồng tát cá, bới khoai
Vào non bẫy thú, nằm dài nghe chim
Anh em nhớ đến nhau tìm
Qua nương trẩy một giỏ sim làm quà
Hứng nước suối thết bình trà
Hái bầu nấu bát canh hoa cuời khàn
Vuốt râu, viết sách, hưởng nhàn
Then mây khoá một niết bàn bên khe (450)
Mai sau viễn khách nào nghe
Tìm thăm hang đá hỏi bè mây xanh
Như Người phá giặc tan tành
Vó mây Phù Đổng, công danh bọt bèo
Vươn vai như biển dâng triều
Đường về chỉ thấy sương chiều non giăng
Kiều thưa: Rõ tấm can tràng
Rồng thiêng ẩn cánh phượng hoàng bạt mây
Phận hoa dám tưởng đâu ngày
Song song đôi ngựa, cỏ cây tần ngần (460)
Non cao mới biết trăng gần
Đớn đau mới rõ dấu chân phi thường
***
Trò đời tranh bá đồ vương
Ngàn năm phơi trắng bãi xương lập loè
Lời than tiếng khóc còn nghe
Gầm trời đâu chẳng khói che mịt mù
Có chăng, goá phụ phòng thu
Mạch sầu ngâm kỹ tiếng ru truyền đời
***
Từ nghe mắt thẳm trùng khơi
Sương un chén ngọc, tay ngời ánh trăng (470)
Nhìn cây đàn lạnh tơ băng
Tóc bay mờ nhạt, sông Hằng sao thưa
Cảm trong nữ tướng rừng xưa
Tay Kiều hạ mấy dòng thơ lệ tràn
Từ đem thích dưới thành đàn
Bây giờ dấu cũ trơ làn sương phai
***
Đêm nay Kiều lại u hoài
Lệ rơi đàn - bật dây ai não nùng
Tiếng nào heo hút âm cung
Ngoài song lãng đãng một vùng cỏ hoa (480)
Hiển linh trong gợn âm ba
Thành đàn cài nửa trăng tà nghiêng nghiêng
Vai Kiều óng giải mây huyền
Vuốt ve đâu gợn gió thiêng thoảng về
Sao trời - ngỡ cánh hoa lê
Dường như ánh mắt xưa kề mênh mông
***
Lại đêm trướng gấm trầm xông
Từ nghe trinh bạch nỗi lòng nghĩa binh
Hồ tổng đốc - Tướng triều đình
Bỏ phường ô lại, chiêu nghinh hiền tài (490)
Lại đem danh lợi chiêu bài
Lại đem tông tích "rợ ngoài" truyền rao
Còn đang vá giáp, mài đao
Binh cơ trễ nải, anh hào phân vân
Nửa vì đại nghĩa cố nhân
Nửa e ngoại chủng, có phần hiềm nghi
Thì thầm kẻ ở người đi
Giáo gươm lơ đễnh, quân kỳ ngả nghiêng
Lấy gì gióng trống thúc chiêng
Gài ta vào thế tư riêng rõ ràng (500)
Từ ngồi nung nấu tâm can
Tuỳ cơ liều phải trá hàng một phen
Chờ khi giáp mặt hai bên
Rút đao bắt tướng, thế lên mấy hồi
Chỉ còn ứng kế này thôi
Con tin khi nắm chắc rồi - sẽ hay
Bằng không - ngọt một đường bay
Dù xa trăm thước đao này trệch đâu
Rồi ta tuẫn tử qua cầu
Cơ đồ trả lại cho mầu cỏ non (510)
***
Được thua một trận cười ròn
Cái chi còn lại - hoạ còn văn chương
Tội Kiều trải lắm đau thương
Chẳng ơn xuân sắc lại chường gió Đông
Cha già mẹ yếu ngùi trông
Buồm đi cuối biển, bến mong sum vầy
***
Nghiêng nghiêng vò rượu nốc say
Chống gươm sáu thước, dựng mày cọp thiêng
***
Kiều thưa: Chàng có chi phiền
Phen này cho thiếp trận tiền được theo (520)
***
Mắt Từ như nửa trăng treo
Rằng nơi bãi chiến lắm chiều gian nguy
Việc quân - Kỳ, Chính còn tuỳ
Thân ta muôn trận đã lỳ kiếm cung
Ngại khi gươm giáo chập chùng
Đất bằng kia lỡ bỗng vung sóng cồn
Thôi! Nàng mắt khải hoàn môn
Ngồi pha trà đợi, vân bôn ngựa về
Qua sông chỉ ngọn kiếm thề
Không yên thế giặc không về qua sông (530)
Môi kia ai đậm cánh hồng
Lầu xuân chờ nở một bông hướng vời
Ta đi trong áng mây dời
Tung cờ vĩnh cửu chơi vơi lá sầu
Ngọn cờ ảo hoá thiên thâu
Cuối đường vĩnh tuyệt rầu rầu cỏ xanh
Lối ra - trống đổ tràng thành
Hoa Thu trổ ngát, tinh anh dấu về
Trái tim dũng sĩ không hề
Cần chi một tấm mộ bia dựng buồn (540)
Biết nhau - hạt lệ ngùi tuôn
Cũng là rửa sạch đoạn trường gió bay
Tử, Sinh - như áo đổi thay
Lửa thiêng trao những bàn tay - chẳng tàn
***
Rồi Từ - như ánh sao tan
Đêm nay loé giữa lòng đàn nao nao
Trăng nghiêng nhớ mắt xưa nào
Non xa còn khoác chiến bào nhạt sương
Thanh trầm khơi nổi dòng thương
Giàn Đông hoa đã ảnh hường sắc mây (550)
Nguồn: Phạm Thiên Thư, Đoạn trường vô thanh, NXB Văn Nghệ, 2006
VII. Trăm năm sương nổi
Thơ » Việt Nam » Phạm Thiên Thư » Đoạn trường vô thanh » VII. Trăm năm sương nổi
Bức thứ bảy:
(Kim Trọng tới thăm Kiều, chàng kể lại ác mộng của mình.
Kiều khuyên Kim dấn thân, làm việc nghĩa)
Ngựa Kim dừng vó mái Tây
Mũ xanh ngọc đính duới cây sương mờ
Ung dung áo lụa hài tơ
Tiểu đồng đôi trẻ hầu chờ ngoài hiên
Trà dâng chén ngát thuỷ tiên
Chàng ngồi tựa án ưu phiền mông lung
Rằng: Điềm chưa rõ cát hung
Mà nay dư cảm hãi hùng còn vương
Đêm qua mơ vượt non sương
Trên đầu lau lách bên sườn cỏ gai (560)
Chân chồn, móc đẫm hai vai
Càng lên đường lại càng dài - hướng lên
Khi ta vừa tới đỉnh trên
Khắp nhìn thiên hạ, bốn bên mấy người
Thì đâu, ngun ngút mù hơi
Núi kia hoá chiếc cầu ngời trăng thanh
Chân non - hoá khoảnh trời xanh
Đầu non - hoá vực đá, ghềnh hiểm nguy
Hai tay đất đá ôm ghì
Cầu treo lơ lửng - còn gì dưới sâu (570)
Đỉnh non lại hoá đầu cầu
Tưởng lên lại hoá lao đầu xuống khe
Mịt mù sương toả mây che
Rơi như ngọn cỏ, thét nghe hãi hùng
Tỉnh ra cảm sợ vô cùng
Chẳng hay mộng ứng cát hung lẽ nào
***
Vừa nghe Kim kể chiêm bao
Lòng Kiều như suối nao nao dồn về
Khác gì mộng thoảng đêm kia
Cũng cây cầu lững bốn bề trơ vơ (580)
Ta bay cùng tiếng trúc tơ
Chàng lên đỉnh ngọn ai ngờ - xuống sâu
Trăm năm là mấy nhịp cầu
Bước chân kiếm hỏi bể dâu ngậm lời
Tử sinh một cõi con người
Thấp, Cao, Thành, Bại - khóc cười dở dang
Buồn vui trong giấc mơ màng
Mấy ai thoát khỏi con đàng khói mây
Kiều thưa: Bèo dạt sóng vầy
Khuôn thiêng như mảnh trăng dầy lung linh (590)
Ý người dấy cuộc phù sinh
Cát, Hung cũng tự lòng mình thế thôi
***
Hẳn chàng nghị án hôm rồi
Đêm qua tấc dạ bồi hồi chưa an
Khiến trong ảo giác đêm tàn
Chiêm bao - thiếp sẽ nhờ bàn - dở hay
Bây giờ hoa cỏ chờ tay
Phúc nhân gieo một chút này làm duyên
Bốn phương sóng gió đã yên
Ban ân bố đức là quyền mẹ cha (600)
Móc mưa thấm đượm muôn nhà
Thánh hiền mở sách, quan nha dẹp hình
Lợi dân là vững triều đình
Từ bi trải rộng, yên bình mới xong
***
Kim rằng điều đó - hằng mong
Cửa quan thành chốn cửa Không đại từ
Nhưng đời - hai lẽ công tư
Lòng người ẩn hiện thực hư khó lường
Dưới trên đâu dễ một đường
Phép công cũng trọng, lòng thương cũng nhiều (610)
Khó sao tròn vẹn đôi điều
Làm quan như thể chơi diều gió to
Nào ai ai biết thương cho
Qua sông ai đã nhớ đò đưa sông
Cứ theo mực thước cửa công
Oán ân cũng lắm, mà lòng nào yên
***
Nhiều khi nhớ thú điền viên
Quân cờ giậu trúc, ưu phiền ngoài tai
Muốn đem treo ấn cửa cài
Căng buồm, biển rộng sông dài thênh thang (620)
Học đòi theo gã Từ quan
Bên chùa cởi áo chuộc nàng dưới hoa
Mái chèo lãng đãng yên ba
Thần Phù xoã tóc la đà rong chơi
***
Kiều thưa: Đạo khí tột vời
Trăm năm sương nổi mây dời là bao
Cho dù bổng trọng quyền cao
Tấm thân đâu chỉ ra vào quyền vinh
Có mình cũng thể quên mình
Cự tà hiển chính yên bình thế gian (630)
Giữ cho lòng được bình an
Huyện đường nào khác non nam ngủ dài
Xưa nay hào kiệt anh tài
Không sương gió - đã biết ai đá vàng
Cửa công dù được một chàng
Còn hơn để rặt những hàng bất nhân
Một lòng vì nước quên thân
Là quan chẳng trọng, là dân chẳng phiền
Kim rằng: tâm Phật lời Tiên
Tài nàng cai trị hẳn yên nước nhà (640)
***
Đã nghe ngựa hí hiên hoa
Vó rơi khiến hạt sương sa ửng hồng
Tiễn chàng ra chốn cửa công
Thềm lam tương kính đôi vòng tay cung
Nguồn: Phạm Thiên Thư, Đoạn trường vô thanh, NXB Văn Nghệ, 2006
VIII. Tẩy nước cành dương
Thơ » Việt Nam » Phạm Thiên Thư » Đoạn trường vô thanh » VIII. Tẩy nước cành dương
Bức thứ tám:
(Kiều đi thăm am xưa - nơi Giác Duyên đã dựng lên
để nàng tu - am đã bị đốt, có người khắc trên tường
bức tranh hạc, y như giấc mộng hiên thu của nàng)
Kiều ngồi thêu đoá phù dung
Gió lay những tưởng trùng trùng sóng xanh
Con chim cẩm vũ trên cành
Gọi chi thêm lạnh mấy nhành mưa bay
Ngoài đồng hiu hắt bông may
Tàng mây ẩm đục vào ngày trôi mau (650)
Đường xa ngơ ngác cờ lau
Am xưa liệu có phai màu khói sương
Nhớ ngày tẩy nước cành dương
Cửa Không yên gởi phận sương dần dà
Sáng trông mái cỏ đầy hoa
Như bông tuyết rụng cánh sa hàng hàng
Ngừng tay nàng nhớ mang mang
Cành Thu ngó lá Thu vàng vèo rơi
Tàng lan như cất tay vời
Thầy đi quẩy đẫy mây trời về chưa (660)
Hay là tan tác gió mưa
Nền rêu cây trút lệ thưa hoa tường
Kiều truyền sửa kiệu lên đường
Hầu theo đôi trẻ, quả hương tráp đào
Sóng ùn khói trắng non cao
Bãi xa cỏ úa dâng trào nước sông
Tưởng chiều mắt lệ ngùi trông
Tưởng người cứu độ cánh hồng là may
Lênh đênh vẫn mặt sông này
Bè giăng lưới đón, thuyền vầy hoa đưa (670)
Thành đàn mười nhánh tay mưa
Ngày nay hoa trổ, ngày xưa lệ ngần
Núi rừng đâu rõ Thu Xuân
Cánh chim nào nhớ dấu chân cát buồn
Trách lòng tự đúc nên khuôn
Trách người chia những vai tuồng thấp cao
Vui buồn trong giấc chiêm bao
Rồi đem vọng tưởng khép vào tâm can
Nhớ Thầy Văn giảng Kim Cang
"Khổ đau mới biết con đàng khói mây (680)
Ngại gì người đó ta đây
Mùa Xuân cây cỏ sum vầy trăm hoa
Lênh đênh ngọn nước phù sa
Vượt lên, thể nhập đại hoà biển dâu
Lấy từ đâu, để về đâu
Chợ mây tan hợp bên cầu mấy phiên
Sao con lắm nỗi buồn phiền
Chẳng như suơng sớm trên triền non bay
Mặc ai tâm vọng nọ này
Ván cờ cao thấp chua cay gượng cuời" (690)
***
Còn đang hướng mắt xa vời
Núi xưa kiệu đã đến nơi hẹn lòng
Tiếng chim thoảng lọt rèm hồng
Sợi mưa bay ướp bềnh bồng hương lan
Trông ra tủi hận vô vàn
Am mây còn đống tro tàn nền trơ
Rừng chiều lau lách bơ vơ
Cây phơi cành lệ suơng mờ bao la
Lòng Kiều lắm nỗi xót xa
Trách mình quên mái hương xa bấy ngày (700)
Thầy đi biền biệt ngàn mây
Hỏi ai – hoa ngọn gió lay mấy nhành
Mưa xoi rêu nhạt thềm xanh
Cổng cao mối đắp, tường quanh chuột đùn
Rì rào, dế gọi, trùng dun
Vườn ngoài cỏ dại mấy lùm vươn cao
Sân rêu vương dấu hài nào
Không lâu hẳn có người vào đốt am
Nàng truyền mấy đứa a hoàn
Bệ xưa quét dọn, khói nhang lửa đèn (710)
Kiều đang thơ thẩn quanh thềm
Bỗng dưng thấy bức tường bên tạc hình
Khắc con tiên hạc uốn mình
Phiêu diêu hương nguyệt, lung linh vân đằng
Rêu mờ, bụi phủ, nhện giăng
Hạt mưa lấp lánh như hàng lệ rơi
Chừng nghe tấc dạ bồi hồi
Khác chi mộng thoảng đêm ngồi hiên Thu
Cầu treo sương khói âm u
Bước chân hạc nổi tít mù trăng sao (720)
Bây giờ trước bức tường nao
Vết hài nét hoạ thanh tao – cùng người
Cứ xem nét ẩn nét tươi
Chẳng từ đại chí, cũng nơi đạo trường
Vết hài còn đậm dấu suơng
Bức tranh rõ nét trên tường mới đây
Hay là Tam Hợp sư Thầy
Du phương để bức hoạ này nhủ ta
Ý ngài thức tỉnh trần sa
Quẩn quanh vọng tưởng vào ra ngại ngần (730)
Sân ngoài mưa đọng dấu chân
Tường trơ hạc cuốn phù vân rã rời
Giác Duyên thầy khuất phương trời
Mây ùn cửa núi, hoa rơi động ngoài
Non xưa am vẳng u hoài
Cây trơ sắc nhớ, cỏ dài ngọn trông
Biết đâu đã xả bụi hồng
Hoá thân triền núi bãi sông nào chừng
Sợi mưa ngơ ngác rưng rưng
Hoa nghiêng lắng gió cây rừng vọng chim (740)
Trên sông đôi giải mây chìm
Nắng hoe tà áo tóc in dòng huyền
***
Kiệu phu chờ thỉnh ý trên
Thơ đề thoắt uốn tay tiên bốn dòng
Vai nghiêng vắt cạn lệ lòng
Tơ Thu cuộn thẫm một vòng tà dương
Nẻo về lối tím khe sương
Hoa chân núi, lệ ven đường cùng rơi
Thì thào khói sóng ùn hơi
Nhạn sa dấu cát, mây dời sắc non (750)
Đường dài thêm nỗi héo hon
Cội lan đỉnh biếc hương còn vuơng theo
Nguồn: Phạm Thiên Thư, Đoạn trường vô thanh, NXB Văn Nghệ, 2006
IX. Năm cung trường lệ
Thơ » Việt Nam » Phạm Thiên Thư » Đoạn trường vô thanh » IX. Năm cung trường lệ
Bức thứ chín:
(Đêm Kiều ngồi đọc thơ – cây đàn cũ "Gươm đàn nửa gánh"
của Từ Hải - lại tự bật lên một tiếng não nùng)
Giàn Đông chênh mảnh gương treo
Ánh trăng pha hạt nến gieo lệ vàng
Lung linh bóng nhạt thành đàn
Kiều ngồi tựa án giở trang thơ sầu
Tay tiên lả cánh nhiệm màu
Mắt huyền thoáng hiện mấy câu suơng mờ
Ngàn năm mực đọng dòng thơ
Bút lan quyện gió trên tờ khói mây (760)
Hạc nào qua, dấu còn đây
Đường xưa chim để sầu này chan chan
Thơ tình cuộn sóng chưa tan
Hồn tình đáy chén bạch đàn đêm lên
Lệ tình rơi vỡ bóng thuyền
Chàng Trương – một khúc hát nguyền – tóc bay
***
Lửa tàn bóng lạnh lung lay
Tường Đông lại chợt vẳng dây não lòng
Cho sầu thêm võ hoa dong
Tỳ bà đẫm một nét cong trăng vàng (770)
Đêm qua tơ tóc bàng hoàng
Bây giờ lại thoảng nốt đàn âm dương
Hoa xưa tàn gió sa truờng
Chút hương trinh bạch còn vương vấn hoài
Bao năm theo ngựa lạc loài
Năm cung trường lệ gởi ai anh hùng
Rồng thiêng một thưở vẫy vùng
Nghiệp riêng đã dứt, thù chung đã đền
Vị gì nấc tiếng tơ lên
Trong hơi gió vuốt rùng trên tỳ bà (780)
Chén quỳnh trăng ẩn bóng hoa
Bóng gieo xuống bức rèm là như mưa
Nguồn: Phạm Thiên Thư, Đoạn trường vô thanh, NXB Văn Nghệ, 2006
X. Hộp gỗ trầm hương
Thơ » Việt Nam » Phạm Thiên Thư » Đoạn trường vô thanh » X. Hộp gỗ trầm hương
Bức thứ mười:
(Kiều nằm võng, đọc Thơ Kinh, khi vừa nhập diệu,
thì cây đàn "Trần Nguyện Mai" cũng tự vỡ tan – Kiều truyền chôn đàn
theo bên mộ nghĩa sĩ – Trồng lên nóc mộ đàn cây đông mai)
Trời cao xanh hạt suơng thưa
Tổ rơm gió động chim đưa giọng tình
Bãi thu nhuộm khói bình minh
Cò bay trắng lẫn bồng bình mây xa
Kiều nằm soãi dưới giàn hoa
Đu đưa nhịp võng tóc sa dòng huyền
Xanh từ thảm cỏ xanh lên
Hương từ gió lại, hương trên lụa hồng (790)
Áo nàng tuyết điểm nhành bông
Giếng huyền nét mắt, sen hồng viền tai
Thơ Kinh thầm đọc sớm mai
Chữ trong giấy quý, chữ ngoài chân chim
Ý từ mây thấm vào tim
Lời ra sỏi đá cũng im lặng mừng
Dường trong tâm não tưng bừng
Ý thơ cất cánh chim rừng hồ giang
Làm cầu đưa trái tim sang
Bờ kia – một đoá sen vàng chơi vơi (800)
Võng như đưa tới ngọn trời
Mở tung giả ngã lắng lời thiên nhiên
Tay mười ngón muốt tơ tiên
Cầm cong nhật nguyệt – hai miền mông lung
Thêm huyền hoặc vẻ thu dung
Bông hoa trong cõi vô cùng lại tươi
Bâng khuâng Kiều hé môi cười
Chợt nghe vách nắng rụng rời tiếng ngân
Nghiêng mình dáng liễu dời chân
Mái Đông ghé lại, xem gần, mới hay (810)
***
Cây đàn Từ - đứt tơ dây
Thành đàn rời rụng những này gió sương
Thấy từ thớ gỗ ám hương
Thoáng con nhện trắng tìm đường tơ leo
Mơ hồ ngựa chảy quân reo
Hoa man mác lệ, gió heo hút vàng
Kiều ôm đàn cũ sầu tàng
Gỗ cau mặt thấm đôi hàng lệ xanh
Tay nào bật khúc vô thanh
Cho hoa kia trắng một cành tin xuân (820)
Còn gì trong cõi phù vân
Đàn ơi! Chẳng để ai ngần lệ thêm
Bây giờ đàn lại lên yên
Liềm trăng thái cổ - đêm huyền ngựa mây
***
Tóc Kiều gió phất phơ lay
Môi chau nụ Hạ, mắt ngây giếng trời
Gỗ xưa một nắm rã rời
Hai tay ôm trọn lệ ngời chứa chan
Nàng quỳ nghiêng tượng hiên lam
Đàn tiêu mặt nhớ, lòng tan sợi buồn (830)
Khác gì mây trải mưa tuôn
Theo mưa mây cũng tan luôn bóng hình
Rồi Kiều gói nắm u tình
Cây đàn Từ - Nguyện còn hình gỗ trơ
Chôn ngày xưa với đàn xưa
Đoạn trường rơi lệ xin giờ thôi vương
Liệm vào hộp gỗ trầm hương
Chung quanh lót những hoa hường hoa mai
Lò hương – khói ngẩn ngơ dài
Mái Đông gió thoảng gieo vài lễ hoa (840)
***
Kiều truyền mấy đứa sai nha
Đem hòm đàn nọ, hỏi nhà quản lao
Nơi chôn dũng sĩ hôm nào
Bên mồ, kỷ vật đặt vào táng theo
Sườn đồi nắm đất cheo leo
Nhành bia tuế nguyệt sương neo mấy hàng
Lại truyền đánh gốc mai vàng
Trồng lên nóc mộ cây đàn Nguyện Mai
***
Tơ tình theo gió ngàn bay
Chờ xuân vàng cội hoa gầy hắt hiu (850)
Nguồn: Phạm Thiên Thư, Đoạn trường vô thanh, NXB Văn Nghệ, 2006
XI. Những đêm tàn rượu
Thơ » Việt Nam » Phạm Thiên Thư » Đoạn trường vô thanh » XI. Những đêm tàn rượu
Bức thứ mười một:
(Hồ Tôn Hiến thanh tra đất cũ, nhớ tiếng đàn Thuý Kiều.
Trong tiệc thơ, có nhà văn kể lại đời nàng.
Hồ ban tặng Kim Trọng cây đàn)
Kim về tựa án đăm chiêu
Chập chờn lửa múa, tiêu điều gió đưa
Vào Đông tiết giá mưa thưa
Cành trơ vàng rụng, đào vừa hồng khai
***
Huyện đường kể buổi sáng nay
Có Hồ Tổng đốc nhân ngày thanh tra
Đất bằng nhớ trận phong ba
Thác là ngựa cuốn, gió là cờ reo
Hồ cùng Từ Hải – một keo
Nắng ngời kiếm kích, mây neo lọng tàn (860)
Vài năm giặc giã tan hàng
Mưu cơ đôi kế, ngọc vàng dăm rương
Họ Từ - đối thủ phi thường
Nam bang trí dũng chẳng nhường một ai
Võ văn thao lược là tài
Đức dung hào kiệt, trí ngoài thần cơ
Nêu chính nghĩa, dựng màu cờ
Danh vang trung thổ, khí mờ đẩu tinh
Giá là rường cột triều đình
Bốn phương mở cõi, thái bình cậy tay (870)
Cứ xem người đó ta đây
Trời cao hơn hẳn đất dầy - chẳng sai
Xưa nay những bậc kỳ tài
Tử sanh là chuyện bên ngoài, luận chi
Tấn trò dâu biển qua đi
Nghĩa nhân mới để chút gì làm duyên
Mượn danh đãi sĩ chiêu hiền
Che quân mai phục giáo khiên sáng loà
Họ Từ thừa biết mưu ta
Vẫn vào đất chết như là rong chơi (880)
Vả chăng tuốt mũi gươm ngời
Hai bên kéo một cuộc chơi đến cùng
Dù cho trời đất chẳng dung
Hùm thiêng trong rọ vẫy vùng chưa thôi
Lại thêm thây chất nên đồi
Nát nhầu cỏ nội, tả tơi lá ngàn
Hẳn Từ chẳng vị giàu sang
Lồng son sao đáng phượng hoàng khép thân
Mà e gió dập mây vần
Thêm hồn vô tội dưới chân ngựa giày (890)
Một khi nát cỏ tàn cây
Đời Kiều ắt hẳn thêm đày đoạ mưa
Anh hùng nhi nữ nghìn xưa
Vướng nhau vì một đường tơ diệu vời
***
Những đêm tàn rượu chơi vơi
Trong ta chợt hiện bóng người hiên ngang
Mắt Từ - kiếm ảnh chưa tan
Khiến thân co lạnh trong làn khí thiêng
Nghĩ mình muôn trận cung tên
Việc quân trá thuật là quyền xưa nay (900)
Ngại gì máu nhuộm hồng tay
Thây oan chừng đã chất đầy đồng hoang
Tử sanh - là luật sa tràng
Giáo gươm là tín, trá gian là tài
Chiến tranh – chẳng khác canh bài
Mua vui trong cuộc trần ai nhọc nhằn
Chỉ vì chút lợi chút danh
Được thua đắp đỗi – tan tành tiếp nhau
Đã thành cái lệ biển dâu
Yếu thua, mạnh được – cao sâu đặt bày (910)
Trừ khi Thánh Chúa vần xoay
Yêu thương sự sống ngừng tay hận thù
Lòng không biển thẳm non mù
Hợp hoà cuộc thế thiên thu cậy nhờ
Còn như trí thuật nghìn xưa
Bày ra thêm những vực bờ tâm gian
***
Núi sông trải mãi xương tàn
Đổi thành mấy đấu lương quan triều đình
Cúi đầu lấy nhục làm vinh
Mắt mờ tai điếc, dân tình mặc ai (920)
Vật vờ áo mão cân đai
Vào trong khúm núm, ra ngoài vây vo
Tiếc cho thân cũng trong lò
Tỉnh thôi tóc đã màu tro ngả chiều
Hồn oan nào biết bao nhiêu
Lẫn hơi gió lạnh ít nhiều oán pha
Mắt Từ như lưỡi gươm loà
Đêm đêm vào mộng nhìn ta lạnh lùng
Trải qua muôn trận thư hùng
Khơi sông máu hận đổi chung rượu đầy (930)
Đã từng xé xác phanh thây
Xem như phạt cỏ chém cây là thường
Kể chi thiện ác thói thường
Chiến tranh là đến yêu thương nhiệm mầu
Mặc cho lũ quỷ không đầu
Dắt nhau lủi thủi qua cầu tử sinh
Từ hôm cái chết oanh linh
Trong tâm ám ảnh, bên tình không yên
Khiến ta u uất não phiền
Đêm đêm thao thức ngó viền trăng phai (940)
Bao giờ hoà hợp muôn loài
Bên trong thịnh đức, bên ngoài điều phương
Làm sao mở hết biên cương
Trần gian dựng một thiên đường chung vui
Cho hoa tươi góp ngàn tươi
Cho ta dâng nốt cuộc đời góp công
***
Qua đây nhớ tiếng tơ đồng
Ngày tàn binh lửa núi sông nhuộm cờ
Tay Kiều lướt mấy dòng tơ
Năm cung còn đến bây giờ vọng vang (950)
Sông Thương nào sóng mang mang
Tấm lòng nghĩa nước tình chàng chia đôi
An Tiêm nào nỗi bồi hồi
Hồn quê theo cánh diều trôi mây về
Bốn dây như điếng như tê
Nỉ non oán đọng, não nề sầu câm
Bây giờ vẫn thoảng dư âm
Tiếng đàn thanh lặng khóc thầm bấy nay
Tơ xưa rụng ở đất này
Ngọc xưa trầm dưới sông vầy lênh đênh (960)
Đoạn trường sóng dọi trăng thanh
Tưởng xiêm y đó còn xanh đến giờ
Bãi chiều hoa trắng đong đưa
Ngỡ tay người cũ phím tơ lạnh lùng
Giờ nhìn kỹ nữ so cung
Hồ ngồi tựa gối nhắp chung trà buồn
Sân mưa sùi sụt dòng tuôn
Dương như lệ tủi kiếp hường long đong
Cùng tân khách ngỏ hận lòng
Hồ tơ nay chạnh tiếng đồng tiệc quân (970)
Ngày xưa, của một giai nhân
Giết chồng, cứu nước muôn phần vẻ vang
Rồi thân giao xuống Tiền Đàng
Trăm năm vẹn nghĩa đá vàng sâu xa
***
Bấy giờ có một văn gia
Thưa rằng chuyện ấy tôi đà rõ hay
Giở trang tài mệnh xưa nay
Cùng hoen nước mắt, càng dày túc duyên
Dòng đời khi xuống khi lên
Cũng là thử thách cánh thuyền thiên hương (980)
Kể từ đất cũ họ Vương
Kiều, Vân phận gái riêng vườn ẩn hoa
Vương Quan, trai nối dòng nhà
Soi trăng đọc sách đậm đà kinh luân
Thuý Kiều vì hiếu quên thân
Duyên trời vừa hé nụ xuân vội tàn
Tưởng cùng Kim dệt phím loan
Trăm năm hoà một bản đàn rồng mây
Ai ngờ một sớm chia tay
Mảnh trăng, đất nọ đất này nhớ nhau (990)
***
Kẻ đi buồn trắng ngàn lau
Người về tay nhặt hoa cau lệ tràn
Vận nhà gặp chuyện trái oan
Vàng ba trăm lạng lễ quan mới thành
Chuộc cha, nàng phải bán thân
Dầu sôi lửa bỏng dám lần lữa đâu
Cậy em trả mối tình đầu
Hạt mưa liều phận, chôn câu nguyệt thề
Rơi vào tay họ Mã kia
Dầm sương dãi gió một xe bụi hồng (1000)
Cánh bèo ngơ ngác trên sông
Lầm nơi buôn hạnh, bán hồng mà trao
Phận Kiều chưa ngọt tay dao
Then sương đóng chặt hoa vào lầu xanh
Lại lầm thêm mẹo Sở Khanh
Miệng kêu chẳng thấu thôi đành phận câm
Đứt lòng nức tiếng ca ngâm
Rượu cười cợt khách lệ tầm tã riêng
Nàng cùng chàng Thúc vầy duyên
Tưởng qua dầu dãi lại thêm đoạ đày (1010)
Chước ghen vợ Thúc mới hay
Khiến mày mặt tủi – ngó mày mặt đau
Trái oan đành phận tôi hầu
Cá nằm đáy lưới lo rầu sớm hôm
Vượt tường ẩn chốn Thiền môn
Nhưng e thêm trận sóng cồn phong ba
Lần thêm Bạc Hạnh, Bạc Bà
Tưởng đâu mái ấm lại là lầu xanh
Thôi thì sen lấm bùn tanh
Gió mưa thêm nữa vầy cành thu mưa (1020)
Não nùng nguyệt đón sương đưa
Tình riêng còn ánh sao thưa cuối trời
***
Một hôm đất Việt có người
Nghênh ngang đàn kiếm tìm nơi chuộc nàng
Nửa năm duyên bén đá vàng
Họ Từ nổi máu hồ giang quen ngày
Đưa chồng ngựa nhạt yên mây
Phòng thu khép kín đêm ngày mênh mông
Người đi mù mịt non sông
Cho hoa quỳ võ một bông hướng chờ (1030)
Ngó sao, sao cũng hoen mờ
Hỏi trăng, trăng cũng lặng lờ tuyết băng
Nhện buồn thì giở tơ giăng
Người buồn khâu áo, biết rằng gửi ai
Gió phai màu lá hiên ngoài
Lệ phai sắc gối đêm dài bóng câm
***
Một hôm binh giáp ầm ầm
Từ về tráng khí hùng tâm chói loà
Trai hào kiệt, gái anh hoa
Một lời đã hẹn dẫu là trăm năm (1040)
Bao phen ngậm lệ kêu thầm
Nhục phơi mặt tái, sầu bầm dạ tuơng
Kiều đem - ân oán tỏ tường
Trả vay cho rõ lẽ thường quả nhân
Những phường buôn liễu vùi xuân
Đầu bêu cửa chợ xa gần hãi kinh
***
Thế rồi binh mã triều đình
Cọp beo là dũng, ngạc kình là oai
Tướng trời nổi trận gió bay
Rạng ơn thánh thượng, một ngày giặc tan (1050)
Thưởng công nàng với thổ quan
Lênh đênh chèo quế, sóng lam dặt dìu
Lòng ai tan tác muôn chiều
Tiền Đường nước bạc gieo liều phù dung
Chìm vào con nước - năm cung
Cho đàn hoá sóng não nùng lòng ai
Tiền căn chưa dứt thiên tài
Cành vàng lại vướng mẻ chài thiện duyên
Từ đây khoác áo hương thiền
Nước dương tẩy oán tan phiền từ đây (1060)
Mệnh đàn tưởng cuốn tơ dây
Cửa Không chôn chặt những ngày xa xưa
***
Cuộc đời lắm nỗi tình cờ
Khi trông không lại, chẳng chờ thì qua
Từ Kim quẩy sách về nhà
Chịu tang đất cũ, nhớ hoa đất người
Nửa năm của lệch gió cười
Hong đèn – sợ bóng, trông vời – tiếc trăng
Đoạn tang vội vã vân đằng
Lòng thu dặm bụi, ngựa băng nội dài (1070)
Liễu xa những tưởng sầu ai
Áo bay ráng đỏ, tóc gài mây xanh
Đàn còn đợi ngẩn ngơ thanh
Hiên văn sẽ lại nguyên vành trăng hương
Một chiều giậu
Nguyễn Kỳ Anh Vũ @ 03:48 11/04/2009
Số lượt xem: 1033
- Mười cô hay chín cô ? (11/04/09)
- Khao khát là ngọn lửa đưa đến thành công (08/04/09)
- ĐỊA PHỦ DU KÝ (02/04/09)
- NGUYET CAM (31/03/09)
- Mùa Thu đã chết rồi ! (30/03/09)
Trăm năm chốn thế tục này
Chữ SAY liền với chử SAI một vần
Những điều em tôi rất cần
Cần KHÔNG NÁT RƯƠU được chăng em chờ?
Em chờ cho đến bao giờ
Bình khô-lửa tắt-đốt thơ tìm chàng
Tìm chàng ở động hoa vàng
Áo nâu-chiều tím-Trăng tàn-Sương phai
Rượu cay sao anh say hoài
Cung sai mấy bậc nhạt nhoà âm xưa
NKAV tặng NNTML