Thông tin

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Khuc_thuy_du_tuan_ngoc.mp3 Canh_chim_co_don_thai_hoa__320_lyrics_4.mp3 Mot_Coi_Di_Ve__Hong_Nhung___320_lyrics.mp3 Uan_mua_xuan_uyen_bong_chuyen.swf EmoiHN_PHO.swf Ngay_tet_que_em.swf Chuc_2013_Quang_loan.swf Chucmungnammoi2013_ngayxuanlongphuongxumvay.swf Happy_new_year.swf Cmnammoi2013.swf Violet2.swf P1011476.jpg P1011500.jpg P1011556.jpg Bannertet2013.swf 13561201991537592333.gif Silent_Night.swf Trangtrithongnoeltrochoithoitrangnet8846811.jpg HowtocreatedragansdropaNoelTreeinFlashCS3.png Flash_thiep_Noel1.swf

    Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Chào mừng quý vị đến với Website của Nguyễn Kỳ Anh Vũ.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Bài viết > MỜI TRẦU > Lời hay-Ý đẹp >

    Nhuận sắc Đoạn Trường Vô Thanh = Nguồn: Phạm Thiên Thư, Đoạn trường vô thanh, NXB Văn Nghệ, 2006

    I.                   Xưa là giọt lệ (Phạm Thiên Thư, Việt Nam)

    Đoạn trường
    Sổ gói tên hoa
    Xưa là giọt lệ nay là hạt châu


    Vô thanh như tiếng reo ca bát ngát của nhật nguyệt khiến giọt lệ Vương Thuý Kiều trở thành sợi mây hồng cất cánh vèo bay qua tài mệnh nhị tướng kết nên hạt minh châu viên xá lợi của bậc nguyện vào địa ngục là thái độ tịch nhiên sấm sét của người vác thập tự trong cuộc đoạn trường là vòm trời xanh biếc Việt tính khai mở sau thi hào Nguyễn Du chiếc cầu hư ảo khói sương đưa giả tướng ngôn ngữ rã rời trong một vài trống canh mua vui dưới ngọn Hồng Lĩnh trên ba ngàn dòng thơ cô đọng cỏ hoa sau ba mươi năm tơ tưởng Thuý Kiều và thưa: Những hạt lệ đã nổi cánh thiên hương.

    25-7-1972
    Phạm Thiên Thư



    Nhuận sắc
    Đoạn Trường Vô Thanh


    Một đêm nằm mơ, ở đất Tân Bình - gặp Người Đẹp tặng tấm gương soi và cây bút. Tỉnh dậy, mới biết ấp trang Vô Thanh trên ngực mà ngủ quên - Tự nghĩ mặt mày mỗi ngày còn phải rửa lại, huống chi là hư truyện đã viết cách nay trên hai mươi năm - đọc lại lắm chỗ chẳng được như lòng... Nên đêm nay, khêu đèn dầu hao, tựa mảnh trăng tròn hơn ngoài cửa, mượn Người Đẹp ngọn ý bút, nhuận sắc lại Vô Thanh, cốt để tự soi mình vậy - Nay thêm đôi dòng tạ tội.

    21-4-1992
    Phạm Thiên Thư





    Bức thứ nhất:
    (Giãi bày tâm thức,
    Thuý Kiều sau cuộc đoạn trường)


    Lòng như bát ngát mây xanh
    Thân như sương tụ trên cành Đông mai
    Cuộc đời - chớp loé, mưa bay
    Càng đi, càng thấy dặm dài nỗi không
    Thân Tâm Bệnh - nghiệp trần hồng
    Lênh đênh trầm nguyệt, bềnh bồng phù vân
    Giam trong Tài, Mệnh, Giả, Chân
    Trăm năm hồ dễ một lần bay cao
    Đau lòng chuốt tiếng đàn nao
    Năm cung nước chảy lại chao phận mình (10)
    Đời Kiều trải mấy nhục vinh
    Ngã, Nhân đã vượt, thế tình đã qua
    Đoạn Trường sổ gói tên Hoa
    Xưa là Giọt Lệ - nay là Hạt Châu


    Nguồn: Phạm Thiên Thư, Đoạn trường vô thanh, NXB Văn Nghệ, 2006

    II. Sớm tếch bến hồng

    Thơ » Việt Nam » Phạm Thiên Thư » Đoạn trường vô thanh » II. Sớm tếch bến hồng

    Bức thứ hai:
    (Thực chất tình yêu Kim, Kiều)



    Đền nhau tơ tóc duyên đầu
    Ba năm – trăng dãi hoa dầu thế thôi
    Ý người – sóng nổi, mây trôi
    Chốn xa tìm đến, đến rồi - lại đi
    Hiên Thu lần lữa cầm kỳ
    Chén quỳnh lạnh rượu, câu thi biếng vần (20)
    Trước còn nể nguyệt ươm Xuân
    Lần hồi lối cũ sương ngần hạt sa
    Kể từ hương lửa một nhà
    Phôi pha - thì nhớ, đậm đà - thì quên
    Kiều xưa như suối qua triền
    Rêu khô lệ đợi, trăng phiền dáng theo
    ***
    Ngựa dong, phố sớm, thôn chiều
    Lang thang vó rụng, tiêu điều bụi bay
    Chàng Kim dường tỉnh dường say
    Mây xuôi nhớ tóc, hoa lay nhớ người (30)
    Mười lăm năm lại đơm tươi
    Duyên may, bọt sóng chim trời gặp nhau
    Lan xưa in đáy dòng sầu
    Trách chi con suối nhạt màu thời gian
    Trăng nao man mác tơ đàn
    Chừ nghe hờ hững đôi làn khói bay
    Lò trầm ai chửa ngừng tay
    Mà sao hơi lạnh như ngày mưa thưa
    Vui giờ nuối cái buồn xưa
    Chút gì để nhớ, để chờ, để không... (40)
    Tưởng đàn nối nhịp tơ đồng
    Thuyền trăng sớm tếch bến hồng bay lên
    Chơi vơi trong cõi diệu huyền
    Đời Kiều dệt một trường thiên tuyệt vời


    Nguồn: Phạm Thiên Thư, Đoạn trường vô thanh, NXB Văn Nghệ, 2006

    III. Ruổi rong nhật nguyệt

    Thơ » Việt Nam » Phạm Thiên Thư » Đoạn trường vô thanh » III. Ruổi rong nhật nguyệt

    Bức thứ ba:
    (Vẽ cuộc du sơn, Kiều nhìn đôi hài của mình,
    ngộ ra mọi cuộc tìm kiếm bi đát của kiếp người)



    Nửa Thu nhân tiết đẹp trời
    Non nghiêng - bút dựng, mây dời - mực sa
    Thênh thang cáng gấm, tàn hoa
    Chàng Kim ngựa trước, áo nhoà sắc cây
    Một nhà lên núi xem mây
    Rèm thưa hoa động, dấu giày sương đơm (50)
    Kiệu dừng bãi núi cỏ thơm
    Lên cao mới biết là đường quanh co
    Giải sông xanh vẳng câu hò
    Lau vàng thấp thoáng cánh cò về trưa
    Bà Vương chỉ áng mây đưa:
    Chân trời mờ mịt, quê xưa chốn nào
    Cuối thu hẳn chớm bông đào
    Vườn ta – ai biết giờ vào tay ai
    Thân già như hạt sương mai
    Cố thôn liệu có còn vài đêm huyên (60)
    Vân thưa: Trăm nhớ ngàn phiền
    Nhắc chi chuyện cũ, hồ quên bấy ngày
    Kim rằng: Sương nổi hoa lay
    Cố hương tưởng gợn gió may rùng mình
    Lời xưa "Đất dưỡng, trời sinh"
    Không ơn ngô lúa, cũng tình trầu cau
    Kiều nghe, môi điểm khoé sầu
    Vời trông cái nhạn về đâu tít mù
    Rừng vàng hiu hắt hơi Thu
    Ngàn hoa vẳng tiếng chim gù thiết tha (70)
    Đầu sông dằng dặc sóng xa
    Chèo ai nhẹ lướt la đà khói giăng
    Tay Kiều rẽ lối sương băng
    Mắt nàng ẩn nửa viền trăng dõi buồn
    Đá triền tựa ngó mây tuôn
    Bông may cỏ úa nẻo buồn hắt hiu
    Lưng non nhàn nhạt nắng chiều
    Trông hài mình - nhớ bao nhiêu dặm trường
    ***
    Tưởng Từ - yên ngựa thanh gươm
    Ruổi rong nhật nguyệt, bốn phương là nhà (80)
    Tưởng mình - thưở lỡ chân sa
    Cành nghiêng, suối nhận kiếp hoa lạc loài
    Kim thì lẽo đẽo thiên nhai
    Mây bay gió thoảng, dấu ai mà tìm
    Mịt mờ cồn cát chân chim
    Lòng riêng hỏi mảnh trăng im cuối đường
    Rã rời bao dấu hài vương
    Gặp chi trong cuộc vô thường mà mong
    Cõi sầu sao rộng mênh mông
    Tìm đâu một chốn bụi hồng dung thân (90)
    ***
    Chợt nghe tiếng trẻ trong ngần
    Trông lên Tiểu Nguyện đang lần bước hoa: (*)
    Con tìm bá mẫu gần xa
    Bây giờ mới biết mẹ qua chốn này
    Kiều vời, bảo: Nguyện ngồi đây
    Con ơi! Thử nắm bóng mây xem nào
    Trẻ reo: mẹ bắt được sao?
    Nàng cười, ôm Nguyện nghiêng vào vòng tay
    Chẳng ai bắt được mây bay
    Đêm đêm lơ lửng, ngày ngày lang thang (100)
    Khác chi cánh bướm nhuỵ vàng
    Tìm bay vơ vẩn dưới tàng hoa thơm
    ***
    Thôn xa giải khói nhoà hơn
    Tà dương thẫm mảnh thâm sơn cuối trời
    Thoảng đưa tiếng gọi tiếng mời
    A hoàn tìm đến, mở lời cung nghinh
    Bẩm thưa: Quan sắp đăng trình
    Thỉnh bà lên kiệu, về dinh kịp đoàn
    ***
    Sông Thu uốn lọn tơ vàng
    Bèo xuôi biêng biếc, sóng vang dập dìu (110)
    Chim di xao xác đường chiều
    Dường tha lác đác ít nhiều hạt sương
    Non nghiêng vách tía trời hường
    Sau lưng cửa núi mây vương mịt mờ


    (*) Tiểu Nguyện: con gái Thuý Vân với Kim Trọng.

    Nguồn: Phạm Thiên Thư, Đoạn trường vô thanh, NXB Văn Nghệ, 2006

    IV. Bông chờ bên sông

    Thơ » Việt Nam » Phạm Thiên Thư » Đoạn trường vô thanh » IV. Bông chờ bên sông

    Bức thứ tư:
    (Kiều ngồi tựa hiên trăng mơ thấy
    bay lên như cánh hạc trời
    trong âm đàn chưa dứt tắt của lòng nàng).



    Kiều ngồi ngó mảnh trăng tơ
    Chùm sao Thu nở bông chờ bên sông
    Mênh mang dặm biếc cồn hồng
    Cúc tươi cánh nguyệt, liễu lồng tơ mây
    Phòng Thu trầm biếng hương gây
    Vườn trăng thêu nhạt dấu hài lối hoa (120)
    Côn trùng ri rả âm ba
    Gió đêm lãng đãng mưa ngà tơ phơi
    Dường trong hiu hắt Thu hơi
    Thôn sương chầy nguyệt cũng lơi nhịp sầu
    Đò đưa ai hát qua cầu
    Tiếng ca cùng nước sông mau lạnh lùng
    Lầu mai từ thưở tơ chùng
    Tay lan khép gió, năm cung bụi dày
    Đêm đêm nhớ ngón tơ này
    Đã từng đưa lá thuyền say sóng nhồi (130)
    Mà lòng âm hưởng chưa thôi
    Những khi quạnh quẽ - bồi hồi sóng thiêng
    Cây dài bóng xế nghiêng nghiêng
    Kiều ngồi xoã tóc trên thềm hương đưa
    Có trăng chia sẻ đời thừa
    Tình riêng - trăng tỏ bây giờ không trăng
    Nào đêm lối đẫm vườn băng
    Nào lầu khoá nguyệt giam hằng, thở than
    Nào Từ cưỡi gió quan san
    Mảnh trăng tri kỷ chưa tàn lòng nhau (140)
    Từ ngày nguyền bỏ tơ đau
    Trăng cài liễu tưởng - phím sầu quạnh thêm
    ***
    Kiều đang chìm lắng nỗi niềm
    Dế im tiếng gọi - Kim thềm dáng ai
    Áo nào nguyệt giải sương phai
    Ngập ngừng bên giậu, hoa cài gió quanh
    Vườn sao lại rẽ hài xanh
    Riêng thềm tựa mộng, thiếp cành hoa xinh
    ***
    Gió đưa phảng phất hương quỳnh
    Ướp con bướm mộng vô tình lại đây (150)
    Trăng vàng chênh mái hiên Tây
    Khoé tiên dìu dịu, bóng cây vật vờ
    Duới hoa thấp thoáng giọt tơ
    Ánh sao le lói vương bờ tóc bay
    Mi Kiều rũ nét lan say
    Thiếp đi mộng thực phương này là đâu
    ***
    Lên non mây trắng lợp đầu
    Vờn bay theo ngọn cờ lau xạc xào
    Hai bên thắm lý tươi đào
    Kiều như cánh hạc bay vào phù vân (160)
    Cỏ vàng lấp mấy dòng chân
    Sáo tiên hoà với, đàn thần du dương
    Bỗng dưng biêng biếc non suơng
    Thành cây cầu lửng mây vương mịt mờ
    Trước sau chẳng bến chẳng bờ
    Bước chân theo tiếng trúc tơ dặt dìu
    Bâng khuâng trăm nỗi lòng Kiều
    Như dòng thơ nhẹ phiêu diêu ngang trời
    Chừng đâu sương cuộn mây dời
    Chừng đâu hạc ruổi hoa rơi mấy từng (170)
    Lênh đênh lả cánh lan rừng
    Nửa đêm chợt tỉnh ngó vừng trăng nghiêng
    Lòng Kiều mang mác nỗi riêng
    Nào hay thoáng mộng ứng điềm chi đây
    ***
    Chân rời hiên nguyệt mái Tây
    Lò trầm khơi lửa bao ngày than trơ
    Lặng nhìn sợi khói ngẩn ngơ
    Còn leo lên ngọn mây mờ nữa sao
    Cây cầu lửng giữa trăng sao
    Phải chăng - cửa ngõ đi vào huyền căn (180)
    ***
    Tiếng tơ kết kén ôm tằm
    Biết đâu hoá bướm - trăm năm một lần
    Nhớ nàng ứng mộng đêm xuân
    Giục nhau trả hết nợ nần bụi vuơng
    Sông xanh giở sổ đoạn trường
    Sóng đàn ơi, trả phím hường nổi trôi
    Tưởng đâu xác dạt sóng nhồi
    Hồn theo nước chảy bồi hồi tình xưa
    Đâu ngờ cái số hạt mưa
    Còn dài như một âm thừa chưa nguôi (190)
    Tưởng cung nguyệt trổ hoa tươi
    Nào hay mười ngón nước xuôi bẽ bàng
    Từ đêm vắng bặt tơ đàn
    Nợ nần ngày cũ chưa tan sợi nào
    Mông Thu phơ phất hiên đào
    Cầu mây còn bắc lối vào sông trăng
    Lụa ngà thẫm lệ hoen khăn
    Gà đâu tiếng gáy đã rần ngõ hoa


    Nguồn: Phạm Thiên Thư, Đoạn trường vô thanh, NXB Văn Nghệ, 2006

    V. So dây sóng gợn

    Thơ » Việt Nam » Phạm Thiên Thư » Đoạn trường vô thanh » V. So dây sóng gợn

    Bức thứ năm:
    (Kiều lại dùng đàn giải buồn, thì Kim Trọng
    tới thăm kể về cái chết kiên cuờng của một
    dư đảng Từ Hải với cây đàn đeo bên người)



    Tơ chùng tưởng cuốn mưa sa
    Hiên văn khép mở phên hoa khói trầm (200)
    Bao năm vùi giữa cát lầm
    Như cành sen trổ trong đầm hạ xanh
    Giờ Kiều lại nối âm thanh
    Thử đem sương gió tựu thành cung dây
    Tiếng đàn rã liễu rời mây
    Ngón tay dã hạc vờn bay dặt dìu
    Hai hàng lau lách đìu hiu
    Đồi phong lá gọi bóng chiều xác xao
    Hạt đàn tấm tức nao nao
    Suối tuôn mạch đá đau bào lòng non (210)
    Lơ thơ hoa trải đường mòn
    Bâng khuâng ráng đỏ theo con nhạn về
    Năm cung da diết đê mê
    Nắng hoen thềm phấn, mây kề song hương
    Ngón cong - đàn trổ nụ hường
    Ngón xuôi - tơ rụng, hoa vương mấy dòng
    Bước đàn cao thấp long đong
    Dư ba tóc biếc mơ mòng liễu xanh
    Lòng nào thoảng khói mong manh
    Lệ rơi ánh mắt tan tành sầu oan (220)
    Lúc thì như điếng, như tan
    Lúc thì phiêu lãng như làn trầm bay
    Hoá thân vào mấy cung dây
    Lửng lơ mây nhạc, vơi đầy dòng thơ
    ***
    Chàng Kim giải mũ phất phơ
    Khi chau ngàn liễu, khi chờ non trăng
    Tiếng đàn im bặt dòng băng
    Sân ngoài chàng mới xin rằng: Tự nhiên
    Tóc vương tay nhuỵ băng nguyên
    Khoé môi khép nép nửa viền mận tươi (230)
    Kiều thưa: Mấy tiếng tơ lơi
    Tưởng đâu dừng phím như lời nguyền xưa
    Lòng riêng chưa tắt âm thừa
    Chiều nay lại rũ tiếng mưa giang hà
    Mải mê nào biết đâu là
    Nhóm hương cung thỉnh lên nhà thưởng âm
    ***
    Kim rằng: Thăm gác Mai Trầm
    Dưới hoa tơ vẳng sương thầm hạt say
    Mái Đông tìm ghé nơi này
    Bên thềm nghe vẳng tơ bay dặt dìu (240)
    Mà sao hiu hắt muôn chiều
    So tơ xưa lại tiêu điều sầu hong
    Hay ta đòi đoạn việc công
    Chiều nay nghe thoáng nên lòng cảm ra
    Xin nàng thêm khúc tài hoa
    Thử xem thanh ứng có là khác hơn
    ***
    Hương trà đôi chén khay sơn
    So dây sóng gợn lòng đờn lại tươi
    Hồn xanh xanh ngắt da trời
    Hoa Thu não nuột rung mười ngón son (250)
    Nửa cung ngơ ngác trăng non
    Nửa cung nắng quái sông còn vàng phai
    Chợt nghe Tiểu Nguyện reo ngoài:
    "Đàn chi khiến nở thêm vài ngọn bông!"
    Âm thừa gờn gợn mênh mông
    Ngoài song thấp thoáng bóng hồng Thuý Vân
    Cuối vườn cỏ úa, lui chân
    Dắt con, chẳng dám cho gần dư ba
    ***
    Dâng chàng thêm một tuần trà
    Đèn khêu chênh mảnh gương ngà mái thơ (260)
    Kiều thưa: Vụng rối cung tơ
    Có buồn quân tử - xin nhờ lượng cao
    Từ đây dù có thế nào
    Tiếng đàn lại để rơi vào nguôi quên
    ***
    Kim ngăn: Điều ấy chẳng nên
    Vì ta bao mối ưu phiền đảm đương
    Sáng nay ngồi trực công đường
    Trọng hình xử phạt những phường bất nhân
    Từ khi đất nổi sóng thần
    Hiển dương thánh đức yên quân bạo tàn (270)
    Bốn phương thành vững dân an
    Giặc xưa lòng núi đáy hang ẩn mình
    Như sương tan dưới bình minh
    Trừ gian cứ việc gia hình thẳng tay
    Huyện đường buổi sáng hôm nay
    Loạn quân có một tên này - vì đâu
    Trơ trơ lưng thẳng – nghênh đầu
    "Rằng: Tà, Chính - để mai sau sẽ bàn!"
    Sau lưng đeo một cây đàn
    Dường như kỷ vật còn mang bên người (280)
    Nói rồi, miệng ứa máu tươi
    Mắt trừng uất khí, gã cười như điên
    Khiến người nghe rợn ốc lên
    Cười xong thì xác đổ liền - Kiên trung
    Rõ là cái chết anh hùng
    Khiến lòng ta mãi vô cùng xót xa
    ***
    Kiều nghe rời rã tay hoa
    Rưng rưng đặt chiếc tỳ bà cảm thương
    Nàng thưa: Quả chuyện lạ thường
    Khác chi da ngưa sa trường bọc thây (290)
    Những trang nghĩa sĩ xưa nay
    Ngại gì sinh tử chuyển xoay bụi hồng
    Rượu thề bát máu pha chung
    Thì trăm năm nguyện tấm lòng trăng soi
    Đàn kia xin được lần coi
    Dám nhờ quân tử cho đòi đưa sang
    Hẳn nơi động biếc lau vàng
    Tơ đàn ai đó còn vang vọng lời
    Gật đầu, chuyện dễ như chơi
    Nữa đây ta sẽ sai người đem dâng (300)
    ***
    Chuông sương ngân vẳng mấy tầng
    Gió lay dầu dãi một vầng hoa hương
    Tiễn chàng cỏ lục vườn sương
    Sao bay dòng tóc, lá vương dấu hài


    Nguồn: Phạm Thiên Thư, Đoạn trường vô thanh, NXB Văn Nghệ, 2006

    VI. Vương mấy tơ đồng

    Thơ » Việt Nam » Phạm Thiên Thư » Đoạn trường vô thanh » VI. Vương mấy tơ đồng

    Bức thứ sáu:
    (Kiều mươn cây đàn xem - thì chính là cây đàn của
    Từ Hải - còn mang dấu khắc bài thơ cảm tác của nàng,
    nhân một đêm nghe tâm sự của Từ về cây đàn
    của Trần Nguyện Mai - người yêu đã khuất của chàng
    ở đất Châu Phong (Việt Nam) - và qua cây đàn này,
    Từ Hải cũng được một Thiền sư dạy lẽ Vô Thanh)



    Đèn khêu, cửa khép, ai hoài
    Trầm thơm lò cũ, vắn dài hàng ngân
    Đàn ơi! Tiếp tục tầm Xuân
    Ngờ đâu có lúc quây quần ánh trăng
    Còn dây tơ buốt lòng băng
    Tìm đâu một cánh chim bằng đã qua (310)
    Còn đây gỗ bạc trục ngà
    Theo ai sương sớm giang hà những xưa
    Còn dây xào xạc cung mưa
    Đàn ơi kim cổ không bờ cách ngăn
    Một chùm sao biếc hiên văn
    Theo tay nhật nguyệt Kiều lăn hạt sầu
    Thơ nàng - Từ khắc đôi câu
    Bây giờ dấu kiếm còn sâu bụi làn
    Nhớ người yên gió quan san
    Vó tung chuyển đất, tiếng ran lệch trời (320)
    Một hôm mắt nộ khí ngời
    Ầm rung giọng sấm tột vời chí cao
    Giận phường ô lại cường hào
    Đùng đùng bão nổi, ào ào mây đi
    Thanh gươm mở rộng biên thuỳ
    Yên dân riêng cõi, triều nghi rỡ ràng
    Cờ mây rợp, mặt trời vàng
    Sao rung kiếm động, rừng vang hịch truyền
    Rộng cho hoa cỏ truân chuyên
    Quân cơ trướng gấm đòi phiên dự phần (330)
    Nhớ đêm tạm gác việc quân
    Nhìn cây đàn cũ, hỏi dần duyên do
    Tơ chùng, trục bụi không so
    Gỗ phai màu nắng - dậy cho lẽ nào
    Dù trong muôn trận guơm đao
    Đàn theo yên ngựa, ra vào như không?
    Có chi vương mấy tơ đồng
    Gửi cây đàn cũ - lòng mong đáp đền
    ***
    Từ rằng: Hận chửa nguôi quên
    Tấm thân còn đó, lời nguyền sao tan (340)
    Vời trông đất cũ mây ngàn
    Người xưa gửi nắm xương tàn khe sâu
    Anh linh hoà ánh tinh cầu
    Chừng nghe cây cỏ phai màu ngoài song
    ***
    Ta từ quê cũ Châu Phong
    Nếp nhà thư kiếm, Lạc Long dõi nguồn
    Xuân xanh mười tám triêu dương
    Thánh hiền chí vững, cung gươm tài lừng
    Sơn hà - một đẫy sau lưng
    Quyết thanh nội loạn, quyết trừng ngoại xâm (350)
    Lửa hờn rèn chí nung tâm
    Anh em tìm chốn sơn lâm dựa mình
    Cõi biên vùng vẫy thân kình
    Cờ toan mở gió triều đình một phương
    Luỹ đồn rải rác non sương
    Chiêu binh nghĩa dũng, liệu đường tiến quân
    ***
    Duyên trời gặp một giai nhân
    Cũng dòng thanh khí là Trần Nguyện Mai
    Chí nàng toan mở cõi ngoài
    Đèn chong gối sách, gươm mài ánh sao (360)
    Dặm hồng vó bụi tung cao
    Tóc xanh mây hạ, má đào hoa ban
    Nặng vì Dân, Nước - lo toan
    Lược Thao cùng với Thơ, Đàn sánh đôi
    Khi ngày điều trận ven đồi
    Khi đêm xướng hoạ, bồi hồi cầm thanh
    Hai ta mở cõi dựng thành
    Lòng người những muốn, trời xanh chẳng chiều
    Một phen binh giáp tiêu điều
    Vó bay theo vó, ngựa liều dặm băng (370)
    Giặc như lớp lớp mây giăng
    Phá tan đồn trại, san bằng luỹ tre
    Gươm vung - sấm giựt, chớp loè
    Hết xuyên bão nổi, lại đè sóng cao
    Song song gái kiệt trai hào
    Rừng gươm tên gió ra vào hai ta
    Mở đường máu quyết thoát ra
    Gió tan, hẹn dấy phong ba lại ngày
    Vó tung vượt mấy trùng vây
    Máu loang chân ngựa, non thây chật đồng (380)
    Cánh chim chưa thoát khỏi lồng
    Ngại ta chia trí, bận lòng ái ân
    Trao đàn lại, giữa vòng quân
    Vực sâu gieo nhẹ tấm thân tự tồn
    Sói lang còn ngẩn ngơ hồn
    Xuyên mây tiếng thét dập dồn giặc lui
    Dựng bờm ngựa cũng bừng vui
    Ầm ầm gió lớn cuộn vùi cỏ khô
    Núi giàn thế hiểm lô xô
    Một thân ngựa đạp trận đồ mà ra (390)
    ***
    Yên dừng biên giới ngã ba
    Thanh gươm bốn biển không nhà - về đâu
    Năm ngàn nghĩa sĩ lạc nhau
    Tình duyên thoảng đã qua cầu gió bay
    Bốn phương biêng biếc ngàn mây
    Dường như thừa một thân này chẳng dung
    Nửa toan trở kiếm tranh hùng
    Nửa toan tìm chốn núi rừng tụ quân
    Cây đàn trên ngựa - phân vân
    Bốn dây tay chợt buông ngân tiếng hờn (400)
    Tiếng chi thác đổ mây vờn
    Chừng nghe kiếm gãy xanh rờn lửa reo
    Tiếng chi suối le tuôn theo
    Chừng nghe sương tụ, gió heo hút trời
    Chợt lưng non hiện bóng người
    Tay nương Thiền trượng, tới nơi, giật mình
    Thương nàng vì nước hy sinh
    Ta đang thiếp mệt, tâm tình nát tan
    Nhà sư cất tiếng hỏi han:
    Ai kia ôm mối đoạn tràng đi đâu (410)
    Vừa nghe như tỉnh lòng sầu
    Xuống yên thi lễ, cúi đầu tỏ thưa
    Thiền sư cười đáp: Ta chờ
    Đã lâu, mới vẳng một tơ não nùng
    Khác gì trống nổi trăng rung
    Khác gì nhỏ lệ anh hùng dưới sao
    Chí người như cánh chim cao
    Lạ thay! Lòng lại giam vào hữu thanh
    Cuộc đời - sương thoảng, mây nhanh
    Có Không - hạt móc đầu cành nhẹ rơi (420)
    Bao nhiêu đương thức loài người
    Che đi nguyên tánh toả ngời tự thân
    Muốn xoay chuyển lại cuộc trần
    Phải đồng sức mạnh toàn dân vẫy vùng
    Tay kia chẳng lướt năm cung
    Cho dâu biển trổ muôn trùng trái hoa
    Diệu hành - là tiếng Không Ta
    Không thanh âm ấy mới là âm thanh
    Dậy rồi, vóc hạc bay nhanh
    Viền trăng vô tướng đầu cành trượng treo (430)
    Lòng ta gió bão tan theo
    Mây hồng phất phới trên đèo hào quang
    Yên sương buộc chặt cây đàn
    Hai mươi năm lẻ chưa tan lời nào
    Tiếng thầm giục cánh chim cao
    Ngựa phai sắc gió, chiến bào nhạt mây
    Cây đàn - nàng mới hỏi đây
    Là di chúc, lẫn lời Thầy - còn vương
    ***
    Mốt mai ta bỏ sa trường
    Sẽ đưa Kiều lại cố hương lần hồi (440)
    Bên dòng suối ngắm hoa trôi
    Cất gian lều nhỏ lưng đồi cỏ may
    Xuống đồng tát cá, bới khoai
    Vào non bẫy thú, nằm dài nghe chim
    Anh em nhớ đến nhau tìm
    Qua nương trẩy một giỏ sim làm quà
    Hứng nước suối thết bình trà
    Hái bầu nấu bát canh hoa cuời khàn
    Vuốt râu, viết sách, hưởng nhàn
    Then mây khoá một niết bàn bên khe (450)
    Mai sau viễn khách nào nghe
    Tìm thăm hang đá hỏi bè mây xanh
    Như Người phá giặc tan tành
    Vó mây Phù Đổng, công danh bọt bèo
    Vươn vai như biển dâng triều
    Đường về chỉ thấy sương chiều non giăng
    Kiều thưa: Rõ tấm can tràng
    Rồng thiêng ẩn cánh phượng hoàng bạt mây
    Phận hoa dám tưởng đâu ngày
    Song song đôi ngựa, cỏ cây tần ngần (460)
    Non cao mới biết trăng gần
    Đớn đau mới rõ dấu chân phi thường
    ***
    Trò đời tranh bá đồ vương
    Ngàn năm phơi trắng bãi xương lập loè
    Lời than tiếng khóc còn nghe
    Gầm trời đâu chẳng khói che mịt mù
    Có chăng, goá phụ phòng thu
    Mạch sầu ngâm kỹ tiếng ru truyền đời
    ***
    Từ nghe mắt thẳm trùng khơi
    Sương un chén ngọc, tay ngời ánh trăng (470)
    Nhìn cây đàn lạnh tơ băng
    Tóc bay mờ nhạt, sông Hằng sao thưa
    Cảm trong nữ tướng rừng xưa
    Tay Kiều hạ mấy dòng thơ lệ tràn
    Từ đem thích dưới thành đàn
    Bây giờ dấu cũ trơ làn sương phai
    ***
    Đêm nay Kiều lại u hoài
    Lệ rơi đàn - bật dây ai não nùng
    Tiếng nào heo hút âm cung
    Ngoài song lãng đãng một vùng cỏ hoa (480)
    Hiển linh trong gợn âm ba
    Thành đàn cài nửa trăng tà nghiêng nghiêng
    Vai Kiều óng giải mây huyền
    Vuốt ve đâu gợn gió thiêng thoảng về
    Sao trời - ngỡ cánh hoa lê
    Dường như ánh mắt xưa kề mênh mông
    ***
    Lại đêm trướng gấm trầm xông
    Từ nghe trinh bạch nỗi lòng nghĩa binh
    Hồ tổng đốc - Tướng triều đình
    Bỏ phường ô lại, chiêu nghinh hiền tài (490)
    Lại đem danh lợi chiêu bài
    Lại đem tông tích "rợ ngoài" truyền rao
    Còn đang vá giáp, mài đao
    Binh cơ trễ nải, anh hào phân vân
    Nửa vì đại nghĩa cố nhân
    Nửa e ngoại chủng, có phần hiềm nghi
    Thì thầm kẻ ở người đi
    Giáo gươm lơ đễnh, quân kỳ ngả nghiêng
    Lấy gì gióng trống thúc chiêng
    Gài ta vào thế tư riêng rõ ràng (500)
    Từ ngồi nung nấu tâm can
    Tuỳ cơ liều phải trá hàng một phen
    Chờ khi giáp mặt hai bên
    Rút đao bắt tướng, thế lên mấy hồi
    Chỉ còn ứng kế này thôi
    Con tin khi nắm chắc rồi - sẽ hay
    Bằng không - ngọt một đường bay
    Dù xa trăm thước đao này trệch đâu
    Rồi ta tuẫn tử qua cầu
    Cơ đồ trả lại cho mầu cỏ non (510)
    ***
    Được thua một trận cười ròn
    Cái chi còn lại - hoạ còn văn chương
    Tội Kiều trải lắm đau thương
    Chẳng ơn xuân sắc lại chường gió Đông
    Cha già mẹ yếu ngùi trông
    Buồm đi cuối biển, bến mong sum vầy
    ***
    Nghiêng nghiêng vò rượu nốc say
    Chống gươm sáu thước, dựng mày cọp thiêng
    ***
    Kiều thưa: Chàng có chi phiền
    Phen này cho thiếp trận tiền được theo (520)
    ***
    Mắt Từ như nửa trăng treo
    Rằng nơi bãi chiến lắm chiều gian nguy
    Việc quân - Kỳ, Chính còn tuỳ
    Thân ta muôn trận đã lỳ kiếm cung
    Ngại khi gươm giáo chập chùng
    Đất bằng kia lỡ bỗng vung sóng cồn
    Thôi! Nàng mắt khải hoàn môn
    Ngồi pha trà đợi, vân bôn ngựa về
    Qua sông chỉ ngọn kiếm thề
    Không yên thế giặc không về qua sông (530)
    Môi kia ai đậm cánh hồng
    Lầu xuân chờ nở một bông hướng vời
    Ta đi trong áng mây dời
    Tung cờ vĩnh cửu chơi vơi lá sầu
    Ngọn cờ ảo hoá thiên thâu
    Cuối đường vĩnh tuyệt rầu rầu cỏ xanh
    Lối ra - trống đổ tràng thành
    Hoa Thu trổ ngát, tinh anh dấu về
    Trái tim dũng sĩ không hề
    Cần chi một tấm mộ bia dựng buồn (540)
    Biết nhau - hạt lệ ngùi tuôn
    Cũng là rửa sạch đoạn trường gió bay
    Tử, Sinh - như áo đổi thay
    Lửa thiêng trao những bàn tay - chẳng tàn
    ***
    Rồi Từ - như ánh sao tan
    Đêm nay loé giữa lòng đàn nao nao
    Trăng nghiêng nhớ mắt xưa nào
    Non xa còn khoác chiến bào nhạt sương
    Thanh trầm khơi nổi dòng thương
    Giàn Đông hoa đã ảnh hường sắc mây (550)


    Nguồn: Phạm Thiên Thư, Đoạn trường vô thanh, NXB Văn Nghệ, 2006

    VII. Trăm năm sương nổi

    Thơ » Việt Nam » Phạm Thiên Thư » Đoạn trường vô thanh » VII. Trăm năm sương nổi

    Bức thứ bảy:
    (Kim Trọng tới thăm Kiều, chàng kể lại ác mộng của mình.
    Kiều khuyên Kim dấn thân, làm việc nghĩa)



    Ngựa Kim dừng vó mái Tây
    Mũ xanh ngọc đính duới cây sương mờ
    Ung dung áo lụa hài tơ
    Tiểu đồng đôi trẻ hầu chờ ngoài hiên
    Trà dâng chén ngát thuỷ tiên
    Chàng ngồi tựa án ưu phiền mông lung
    Rằng: Điềm chưa rõ cát hung
    Mà nay dư cảm hãi hùng còn vương
    Đêm qua mơ vượt non sương
    Trên đầu lau lách bên sườn cỏ gai (560)
    Chân chồn, móc đẫm hai vai
    Càng lên đường lại càng dài - hướng lên
    Khi ta vừa tới đỉnh trên
    Khắp nhìn thiên hạ, bốn bên mấy người
    Thì đâu, ngun ngút mù hơi
    Núi kia hoá chiếc cầu ngời trăng thanh
    Chân non - hoá khoảnh trời xanh
    Đầu non - hoá vực đá, ghềnh hiểm nguy
    Hai tay đất đá ôm ghì
    Cầu treo lơ lửng - còn gì dưới sâu (570)
    Đỉnh non lại hoá đầu cầu
    Tưởng lên lại hoá lao đầu xuống khe
    Mịt mù sương toả mây che
    Rơi như ngọn cỏ, thét nghe hãi hùng
    Tỉnh ra cảm sợ vô cùng
    Chẳng hay mộng ứng cát hung lẽ nào
    ***
    Vừa nghe Kim kể chiêm bao
    Lòng Kiều như suối nao nao dồn về
    Khác gì mộng thoảng đêm kia
    Cũng cây cầu lững bốn bề trơ vơ (580)
    Ta bay cùng tiếng trúc tơ
    Chàng lên đỉnh ngọn ai ngờ - xuống sâu
    Trăm năm là mấy nhịp cầu
    Bước chân kiếm hỏi bể dâu ngậm lời
    Tử sinh một cõi con người
    Thấp, Cao, Thành, Bại - khóc cười dở dang
    Buồn vui trong giấc mơ màng
    Mấy ai thoát khỏi con đàng khói mây
    Kiều thưa: Bèo dạt sóng vầy
    Khuôn thiêng như mảnh trăng dầy lung linh (590)
    Ý người dấy cuộc phù sinh
    Cát, Hung cũng tự lòng mình thế thôi
    ***
    Hẳn chàng nghị án hôm rồi
    Đêm qua tấc dạ bồi hồi chưa an
    Khiến trong ảo giác đêm tàn
    Chiêm bao - thiếp sẽ nhờ bàn - dở hay
    Bây giờ hoa cỏ chờ tay
    Phúc nhân gieo một chút này làm duyên
    Bốn phương sóng gió đã yên
    Ban ân bố đức là quyền mẹ cha (600)
    Móc mưa thấm đượm muôn nhà
    Thánh hiền mở sách, quan nha dẹp hình
    Lợi dân là vững triều đình
    Từ bi trải rộng, yên bình mới xong
    ***
    Kim rằng điều đó - hằng mong
    Cửa quan thành chốn cửa Không đại từ
    Nhưng đời - hai lẽ công tư
    Lòng người ẩn hiện thực hư khó lường
    Dưới trên đâu dễ một đường
    Phép công cũng trọng, lòng thương cũng nhiều (610)
    Khó sao tròn vẹn đôi điều
    Làm quan như thể chơi diều gió to
    Nào ai ai biết thương cho
    Qua sông ai đã nhớ đò đưa sông
    Cứ theo mực thước cửa công
    Oán ân cũng lắm, mà lòng nào yên
    ***
    Nhiều khi nhớ thú điền viên
    Quân cờ giậu trúc, ưu phiền ngoài tai
    Muốn đem treo ấn cửa cài
    Căng buồm, biển rộng sông dài thênh thang (620)
    Học đòi theo gã Từ quan
    Bên chùa cởi áo chuộc nàng dưới hoa
    Mái chèo lãng đãng yên ba
    Thần Phù xoã tóc la đà rong chơi
    ***
    Kiều thưa: Đạo khí tột vời
    Trăm năm sương nổi mây dời là bao
    Cho dù bổng trọng quyền cao
    Tấm thân đâu chỉ ra vào quyền vinh
    Có mình cũng thể quên mình
    Cự tà hiển chính yên bình thế gian (630)
    Giữ cho lòng được bình an
    Huyện đường nào khác non nam ngủ dài
    Xưa nay hào kiệt anh tài
    Không sương gió - đã biết ai đá vàng
    Cửa công dù được một chàng
    Còn hơn để rặt những hàng bất nhân
    Một lòng vì nước quên thân
    Là quan chẳng trọng, là dân chẳng phiền
    Kim rằng: tâm Phật lời Tiên
    Tài nàng cai trị hẳn yên nước nhà (640)
    ***
    Đã nghe ngựa hí hiên hoa
    Vó rơi khiến hạt sương sa ửng hồng
    Tiễn chàng ra chốn cửa công
    Thềm lam tương kính đôi vòng tay cung


    Nguồn: Phạm Thiên Thư, Đoạn trường vô thanh, NXB Văn Nghệ, 2006

    VIII. Tẩy nước cành dương

    Thơ » Việt Nam » Phạm Thiên Thư » Đoạn trường vô thanh » VIII. Tẩy nước cành dương

    Bức thứ tám:
    (Kiều đi thăm am xưa - nơi Giác Duyên đã dựng lên
    để nàng tu - am đã bị đốt, có người khắc trên tường
    bức tranh hạc, y như giấc mộng hiên thu của nàng)



    Kiều ngồi thêu đoá phù dung
    Gió lay những tưởng trùng trùng sóng xanh
    Con chim cẩm vũ trên cành
    Gọi chi thêm lạnh mấy nhành mưa bay
    Ngoài đồng hiu hắt bông may
    Tàng mây ẩm đục vào ngày trôi mau (650)
    Đường xa ngơ ngác cờ lau
    Am xưa liệu có phai màu khói sương
    Nhớ ngày tẩy nước cành dương
    Cửa Không yên gởi phận sương dần dà
    Sáng trông mái cỏ đầy hoa
    Như bông tuyết rụng cánh sa hàng hàng
    Ngừng tay nàng nhớ mang mang
    Cành Thu ngó lá Thu vàng vèo rơi
    Tàng lan như cất tay vời
    Thầy đi quẩy đẫy mây trời về chưa (660)
    Hay là tan tác gió mưa
    Nền rêu cây trút lệ thưa hoa tường
    Kiều truyền sửa kiệu lên đường
    Hầu theo đôi trẻ, quả hương tráp đào
    Sóng ùn khói trắng non cao
    Bãi xa cỏ úa dâng trào nước sông
    Tưởng chiều mắt lệ ngùi trông
    Tưởng người cứu độ cánh hồng là may
    Lênh đênh vẫn mặt sông này
    Bè giăng lưới đón, thuyền vầy hoa đưa (670)
    Thành đàn mười nhánh tay mưa
    Ngày nay hoa trổ, ngày xưa lệ ngần
    Núi rừng đâu rõ Thu Xuân
    Cánh chim nào nhớ dấu chân cát buồn
    Trách lòng tự đúc nên khuôn
    Trách người chia những vai tuồng thấp cao
    Vui buồn trong giấc chiêm bao
    Rồi đem vọng tưởng khép vào tâm can
    Nhớ Thầy Văn giảng Kim Cang
    "Khổ đau mới biết con đàng khói mây (680)
    Ngại gì người đó ta đây
    Mùa Xuân cây cỏ sum vầy trăm hoa
    Lênh đênh ngọn nước phù sa
    Vượt lên, thể nhập đại hoà biển dâu
    Lấy từ đâu, để về đâu
    Chợ mây tan hợp bên cầu mấy phiên
    Sao con lắm nỗi buồn phiền
    Chẳng như suơng sớm trên triền non bay
    Mặc ai tâm vọng nọ này
    Ván cờ cao thấp chua cay gượng cuời" (690)
    ***
    Còn đang hướng mắt xa vời
    Núi xưa kiệu đã đến nơi hẹn lòng
    Tiếng chim thoảng lọt rèm hồng
    Sợi mưa bay ướp bềnh bồng hương lan
    Trông ra tủi hận vô vàn
    Am mây còn đống tro tàn nền trơ
    Rừng chiều lau lách bơ vơ
    Cây phơi cành lệ suơng mờ bao la
    Lòng Kiều lắm nỗi xót xa
    Trách mình quên mái hương xa bấy ngày (700)
    Thầy đi biền biệt ngàn mây
    Hỏi ai – hoa ngọn gió lay mấy nhành
    Mưa xoi rêu nhạt thềm xanh
    Cổng cao mối đắp, tường quanh chuột đùn
    Rì rào, dế gọi, trùng dun
    Vườn ngoài cỏ dại mấy lùm vươn cao
    Sân rêu vương dấu hài nào
    Không lâu hẳn có người vào đốt am
    Nàng truyền mấy đứa a hoàn
    Bệ xưa quét dọn, khói nhang lửa đèn (710)
    Kiều đang thơ thẩn quanh thềm
    Bỗng dưng thấy bức tường bên tạc hình
    Khắc con tiên hạc uốn mình
    Phiêu diêu hương nguyệt, lung linh vân đằng
    Rêu mờ, bụi phủ, nhện giăng
    Hạt mưa lấp lánh như hàng lệ rơi
    Chừng nghe tấc dạ bồi hồi
    Khác chi mộng thoảng đêm ngồi hiên Thu
    Cầu treo sương khói âm u
    Bước chân hạc nổi tít mù trăng sao (720)
    Bây giờ trước bức tường nao
    Vết hài nét hoạ thanh tao – cùng người
    Cứ xem nét ẩn nét tươi
    Chẳng từ đại chí, cũng nơi đạo trường
    Vết hài còn đậm dấu suơng
    Bức tranh rõ nét trên tường mới đây
    Hay là Tam Hợp sư Thầy
    Du phương để bức hoạ này nhủ ta
    Ý ngài thức tỉnh trần sa
    Quẩn quanh vọng tưởng vào ra ngại ngần (730)
    Sân ngoài mưa đọng dấu chân
    Tường trơ hạc cuốn phù vân rã rời
    Giác Duyên thầy khuất phương trời
    Mây ùn cửa núi, hoa rơi động ngoài
    Non xưa am vẳng u hoài
    Cây trơ sắc nhớ, cỏ dài ngọn trông
    Biết đâu đã xả bụi hồng
    Hoá thân triền núi bãi sông nào chừng
    Sợi mưa ngơ ngác rưng rưng
    Hoa nghiêng lắng gió cây rừng vọng chim (740)
    Trên sông đôi giải mây chìm
    Nắng hoe tà áo tóc in dòng huyền
    ***
    Kiệu phu chờ thỉnh ý trên
    Thơ đề thoắt uốn tay tiên bốn dòng
    Vai nghiêng vắt cạn lệ lòng
    Tơ Thu cuộn thẫm một vòng tà dương
    Nẻo về lối tím khe sương
    Hoa chân núi, lệ ven đường cùng rơi
    Thì thào khói sóng ùn hơi
    Nhạn sa dấu cát, mây dời sắc non (750)
    Đường dài thêm nỗi héo hon
    Cội lan đỉnh biếc hương còn vuơng theo


    Nguồn: Phạm Thiên Thư, Đoạn trường vô thanh, NXB Văn Nghệ, 2006

    IX. Năm cung trường lệ

    Thơ » Việt Nam » Phạm Thiên Thư » Đoạn trường vô thanh » IX. Năm cung trường lệ

    Bức thứ chín:
    (Đêm Kiều ngồi đọc thơ – cây đàn cũ "Gươm đàn nửa gánh"
    của Từ Hải - lại tự bật lên một tiếng não nùng)



    Giàn Đông chênh mảnh gương treo
    Ánh trăng pha hạt nến gieo lệ vàng
    Lung linh bóng nhạt thành đàn
    Kiều ngồi tựa án giở trang thơ sầu
    Tay tiên lả cánh nhiệm màu
    Mắt huyền thoáng hiện mấy câu suơng mờ
    Ngàn năm mực đọng dòng thơ
    Bút lan quyện gió trên tờ khói mây (760)
    Hạc nào qua, dấu còn đây
    Đường xưa chim để sầu này chan chan
    Thơ tình cuộn sóng chưa tan
    Hồn tình đáy chén bạch đàn đêm lên
    Lệ tình rơi vỡ bóng thuyền
    Chàng Trương – một khúc hát nguyền – tóc bay
    ***
    Lửa tàn bóng lạnh lung lay
    Tường Đông lại chợt vẳng dây não lòng
    Cho sầu thêm võ hoa dong
    Tỳ bà đẫm một nét cong trăng vàng (770)
    Đêm qua tơ tóc bàng hoàng
    Bây giờ lại thoảng nốt đàn âm dương
    Hoa xưa tàn gió sa truờng
    Chút hương trinh bạch còn vương vấn hoài
    Bao năm theo ngựa lạc loài
    Năm cung trường lệ gởi ai anh hùng
    Rồng thiêng một thưở vẫy vùng
    Nghiệp riêng đã dứt, thù chung đã đền
    Vị gì nấc tiếng tơ lên
    Trong hơi gió vuốt rùng trên tỳ bà (780)
    Chén quỳnh trăng ẩn bóng hoa
    Bóng gieo xuống bức rèm là như mưa


    Nguồn: Phạm Thiên Thư, Đoạn trường vô thanh, NXB Văn Nghệ, 2006

    X. Hộp gỗ trầm hương

    Thơ » Việt Nam » Phạm Thiên Thư » Đoạn trường vô thanh » X. Hộp gỗ trầm hương

    Bức thứ mười:
    (Kiều nằm võng, đọc Thơ Kinh, khi vừa nhập diệu,
    thì cây đàn "Trần Nguyện Mai" cũng tự vỡ tan – Kiều truyền chôn đàn
    theo bên mộ nghĩa sĩ – Trồng lên nóc mộ đàn cây đông mai)



    Trời cao xanh hạt suơng thưa
    Tổ rơm gió động chim đưa giọng tình
    Bãi thu nhuộm khói bình minh
    Cò bay trắng lẫn bồng bình mây xa
    Kiều nằm soãi dưới giàn hoa
    Đu đưa nhịp võng tóc sa dòng huyền
    Xanh từ thảm cỏ xanh lên
    Hương từ gió lại, hương trên lụa hồng (790)
    Áo nàng tuyết điểm nhành bông
    Giếng huyền nét mắt, sen hồng viền tai
    Thơ Kinh thầm đọc sớm mai
    Chữ trong giấy quý, chữ ngoài chân chim
    Ý từ mây thấm vào tim
    Lời ra sỏi đá cũng im lặng mừng
    Dường trong tâm não tưng bừng
    Ý thơ cất cánh chim rừng hồ giang
    Làm cầu đưa trái tim sang
    Bờ kia – một đoá sen vàng chơi vơi (800)
    Võng như đưa tới ngọn trời
    Mở tung giả ngã lắng lời thiên nhiên
    Tay mười ngón muốt tơ tiên
    Cầm cong nhật nguyệt – hai miền mông lung
    Thêm huyền hoặc vẻ thu dung
    Bông hoa trong cõi vô cùng lại tươi
    Bâng khuâng Kiều hé môi cười
    Chợt nghe vách nắng rụng rời tiếng ngân
    Nghiêng mình dáng liễu dời chân
    Mái Đông ghé lại, xem gần, mới hay (810)
    ***
    Cây đàn Từ - đứt tơ dây
    Thành đàn rời rụng những này gió sương
    Thấy từ thớ gỗ ám hương
    Thoáng con nhện trắng tìm đường tơ leo
    Mơ hồ ngựa chảy quân reo
    Hoa man mác lệ, gió heo hút vàng
    Kiều ôm đàn cũ sầu tàng
    Gỗ cau mặt thấm đôi hàng lệ xanh
    Tay nào bật khúc vô thanh
    Cho hoa kia trắng một cành tin xuân (820)
    Còn gì trong cõi phù vân
    Đàn ơi! Chẳng để ai ngần lệ thêm
    Bây giờ đàn lại lên yên
    Liềm trăng thái cổ - đêm huyền ngựa mây
    ***
    Tóc Kiều gió phất phơ lay
    Môi chau nụ Hạ, mắt ngây giếng trời
    Gỗ xưa một nắm rã rời
    Hai tay ôm trọn lệ ngời chứa chan
    Nàng quỳ nghiêng tượng hiên lam
    Đàn tiêu mặt nhớ, lòng tan sợi buồn (830)
    Khác gì mây trải mưa tuôn
    Theo mưa mây cũng tan luôn bóng hình
    Rồi Kiều gói nắm u tình
    Cây đàn Từ - Nguyện còn hình gỗ trơ
    Chôn ngày xưa với đàn xưa
    Đoạn trường rơi lệ xin giờ thôi vương
    Liệm vào hộp gỗ trầm hương
    Chung quanh lót những hoa hường hoa mai
    Lò hương – khói ngẩn ngơ dài
    Mái Đông gió thoảng gieo vài lễ hoa (840)
    ***
    Kiều truyền mấy đứa sai nha
    Đem hòm đàn nọ, hỏi nhà quản lao
    Nơi chôn dũng sĩ hôm nào
    Bên mồ, kỷ vật đặt vào táng theo
    Sườn đồi nắm đất cheo leo
    Nhành bia tuế nguyệt sương neo mấy hàng
    Lại truyền đánh gốc mai vàng
    Trồng lên nóc mộ cây đàn Nguyện Mai
    ***
    Tơ tình theo gió ngàn bay
    Chờ xuân vàng cội hoa gầy hắt hiu (850)


    Nguồn: Phạm Thiên Thư, Đoạn trường vô thanh, NXB Văn Nghệ, 2006

    XI. Những đêm tàn rượu

    Thơ » Việt Nam » Phạm Thiên Thư » Đoạn trường vô thanh » XI. Những đêm tàn rượu

    Bức thứ mười một:
    (Hồ Tôn Hiến thanh tra đất cũ, nhớ tiếng đàn Thuý Kiều.
    Trong tiệc thơ, có nhà văn kể lại đời nàng.
    Hồ ban tặng Kim Trọng cây đàn)



    Kim về tựa án đăm chiêu
    Chập chờn lửa múa, tiêu điều gió đưa
    Vào Đông tiết giá mưa thưa
    Cành trơ vàng rụng, đào vừa hồng khai
    ***
    Huyện đường kể buổi sáng nay
    Có Hồ Tổng đốc nhân ngày thanh tra
    Đất bằng nhớ trận phong ba
    Thác là ngựa cuốn, gió là cờ reo
    Hồ cùng Từ Hải – một keo
    Nắng ngời kiếm kích, mây neo lọng tàn (860)
    Vài năm giặc giã tan hàng
    Mưu cơ đôi kế, ngọc vàng dăm rương
    Họ Từ - đối thủ phi thường
    Nam bang trí dũng chẳng nhường một ai
    Võ văn thao lược là tài
    Đức dung hào kiệt, trí ngoài thần cơ
    Nêu chính nghĩa, dựng màu cờ
    Danh vang trung thổ, khí mờ đẩu tinh
    Giá là rường cột triều đình
    Bốn phương mở cõi, thái bình cậy tay (870)
    Cứ xem người đó ta đây
    Trời cao hơn hẳn đất dầy - chẳng sai
    Xưa nay những bậc kỳ tài
    Tử sanh là chuyện bên ngoài, luận chi
    Tấn trò dâu biển qua đi
    Nghĩa nhân mới để chút gì làm duyên
    Mượn danh đãi sĩ chiêu hiền
    Che quân mai phục giáo khiên sáng loà
    Họ Từ thừa biết mưu ta
    Vẫn vào đất chết như là rong chơi (880)
    Vả chăng tuốt mũi gươm ngời
    Hai bên kéo một cuộc chơi đến cùng
    Dù cho trời đất chẳng dung
    Hùm thiêng trong rọ vẫy vùng chưa thôi
    Lại thêm thây chất nên đồi
    Nát nhầu cỏ nội, tả tơi lá ngàn
    Hẳn Từ chẳng vị giàu sang
    Lồng son sao đáng phượng hoàng khép thân
    Mà e gió dập mây vần
    Thêm hồn vô tội dưới chân ngựa giày (890)
    Một khi nát cỏ tàn cây
    Đời Kiều ắt hẳn thêm đày đoạ mưa
    Anh hùng nhi nữ nghìn xưa
    Vướng nhau vì một đường tơ diệu vời
    ***
    Những đêm tàn rượu chơi vơi
    Trong ta chợt hiện bóng người hiên ngang
    Mắt Từ - kiếm ảnh chưa tan
    Khiến thân co lạnh trong làn khí thiêng
    Nghĩ mình muôn trận cung tên
    Việc quân trá thuật là quyền xưa nay (900)
    Ngại gì máu nhuộm hồng tay
    Thây oan chừng đã chất đầy đồng hoang
    Tử sanh - là luật sa tràng
    Giáo gươm là tín, trá gian là tài
    Chiến tranh – chẳng khác canh bài
    Mua vui trong cuộc trần ai nhọc nhằn
    Chỉ vì chút lợi chút danh
    Được thua đắp đỗi – tan tành tiếp nhau
    Đã thành cái lệ biển dâu
    Yếu thua, mạnh được – cao sâu đặt bày (910)
    Trừ khi Thánh Chúa vần xoay
    Yêu thương sự sống ngừng tay hận thù
    Lòng không biển thẳm non mù
    Hợp hoà cuộc thế thiên thu cậy nhờ
    Còn như trí thuật nghìn xưa
    Bày ra thêm những vực bờ tâm gian
    ***
    Núi sông trải mãi xương tàn
    Đổi thành mấy đấu lương quan triều đình
    Cúi đầu lấy nhục làm vinh
    Mắt mờ tai điếc, dân tình mặc ai (920)
    Vật vờ áo mão cân đai
    Vào trong khúm núm, ra ngoài vây vo
    Tiếc cho thân cũng trong lò
    Tỉnh thôi tóc đã màu tro ngả chiều
    Hồn oan nào biết bao nhiêu
    Lẫn hơi gió lạnh ít nhiều oán pha
    Mắt Từ như lưỡi gươm loà
    Đêm đêm vào mộng nhìn ta lạnh lùng
    Trải qua muôn trận thư hùng
    Khơi sông máu hận đổi chung rượu đầy (930)
    Đã từng xé xác phanh thây
    Xem như phạt cỏ chém cây là thường
    Kể chi thiện ác thói thường
    Chiến tranh là đến yêu thương nhiệm mầu
    Mặc cho lũ quỷ không đầu
    Dắt nhau lủi thủi qua cầu tử sinh
    Từ hôm cái chết oanh linh
    Trong tâm ám ảnh, bên tình không yên
    Khiến ta u uất não phiền
    Đêm đêm thao thức ngó viền trăng phai (940)
    Bao giờ hoà hợp muôn loài
    Bên trong thịnh đức, bên ngoài điều phương
    Làm sao mở hết biên cương
    Trần gian dựng một thiên đường chung vui
    Cho hoa tươi góp ngàn tươi
    Cho ta dâng nốt cuộc đời góp công
    ***
    Qua đây nhớ tiếng tơ đồng
    Ngày tàn binh lửa núi sông nhuộm cờ
    Tay Kiều lướt mấy dòng tơ
    Năm cung còn đến bây giờ vọng vang (950)
    Sông Thương nào sóng mang mang
    Tấm lòng nghĩa nước tình chàng chia đôi
    An Tiêm nào nỗi bồi hồi
    Hồn quê theo cánh diều trôi mây về
    Bốn dây như điếng như tê
    Nỉ non oán đọng, não nề sầu câm
    Bây giờ vẫn thoảng dư âm
    Tiếng đàn thanh lặng khóc thầm bấy nay
    Tơ xưa rụng ở đất này
    Ngọc xưa trầm dưới sông vầy lênh đênh (960)
    Đoạn trường sóng dọi trăng thanh
    Tưởng xiêm y đó còn xanh đến giờ
    Bãi chiều hoa trắng đong đưa
    Ngỡ tay người cũ phím tơ lạnh lùng
    Giờ nhìn kỹ nữ so cung
    Hồ ngồi tựa gối nhắp chung trà buồn
    Sân mưa sùi sụt dòng tuôn
    Dương như lệ tủi kiếp hường long đong
    Cùng tân khách ngỏ hận lòng
    Hồ tơ nay chạnh tiếng đồng tiệc quân (970)
    Ngày xưa, của một giai nhân
    Giết chồng, cứu nước muôn phần vẻ vang
    Rồi thân giao xuống Tiền Đàng
    Trăm năm vẹn nghĩa đá vàng sâu xa
    ***
    Bấy giờ có một văn gia
    Thưa rằng chuyện ấy tôi đà rõ hay
    Giở trang tài mệnh xưa nay
    Cùng hoen nước mắt, càng dày túc duyên
    Dòng đời khi xuống khi lên
    Cũng là thử thách cánh thuyền thiên hương (980)
    Kể từ đất cũ họ Vương
    Kiều, Vân phận gái riêng vườn ẩn hoa
    Vương Quan, trai nối dòng nhà
    Soi trăng đọc sách đậm đà kinh luân
    Thuý Kiều vì hiếu quên thân
    Duyên trời vừa hé nụ xuân vội tàn
    Tưởng cùng Kim dệt phím loan
    Trăm năm hoà một bản đàn rồng mây
    Ai ngờ một sớm chia tay
    Mảnh trăng, đất nọ đất này nhớ nhau (990)
    ***
    Kẻ đi buồn trắng ngàn lau
    Người về tay nhặt hoa cau lệ tràn
    Vận nhà gặp chuyện trái oan
    Vàng ba trăm lạng lễ quan mới thành
    Chuộc cha, nàng phải bán thân
    Dầu sôi lửa bỏng dám lần lữa đâu
    Cậy em trả mối tình đầu
    Hạt mưa liều phận, chôn câu nguyệt thề
    Rơi vào tay họ Mã kia
    Dầm sương dãi gió một xe bụi hồng (1000)
    Cánh bèo ngơ ngác trên sông
    Lầm nơi buôn hạnh, bán hồng mà trao
    Phận Kiều chưa ngọt tay dao
    Then sương đóng chặt hoa vào lầu xanh
    Lại lầm thêm mẹo Sở Khanh
    Miệng kêu chẳng thấu thôi đành phận câm
    Đứt lòng nức tiếng ca ngâm
    Rượu cười cợt khách lệ tầm tã riêng
    Nàng cùng chàng Thúc vầy duyên
    Tưởng qua dầu dãi lại thêm đoạ đày (1010)
    Chước ghen vợ Thúc mới hay
    Khiến mày mặt tủi – ngó mày mặt đau
    Trái oan đành phận tôi hầu
    Cá nằm đáy lưới lo rầu sớm hôm
    Vượt tường ẩn chốn Thiền môn
    Nhưng e thêm trận sóng cồn phong ba
    Lần thêm Bạc Hạnh, Bạc Bà
    Tưởng đâu mái ấm lại là lầu xanh
    Thôi thì sen lấm bùn tanh
    Gió mưa thêm nữa vầy cành thu mưa (1020)
    Não nùng nguyệt đón sương đưa
    Tình riêng còn ánh sao thưa cuối trời
    ***
    Một hôm đất Việt có người
    Nghênh ngang đàn kiếm tìm nơi chuộc nàng
    Nửa năm duyên bén đá vàng
    Họ Từ nổi máu hồ giang quen ngày
    Đưa chồng ngựa nhạt yên mây
    Phòng thu khép kín đêm ngày mênh mông
    Người đi mù mịt non sông
    Cho hoa quỳ võ một bông hướng chờ (1030)
    Ngó sao, sao cũng hoen mờ
    Hỏi trăng, trăng cũng lặng lờ tuyết băng
    Nhện buồn thì giở tơ giăng
    Người buồn khâu áo, biết rằng gửi ai
    Gió phai màu lá hiên ngoài
    Lệ phai sắc gối đêm dài bóng câm
    ***
    Một hôm binh giáp ầm ầm
    Từ về tráng khí hùng tâm chói loà
    Trai hào kiệt, gái anh hoa
    Một lời đã hẹn dẫu là trăm năm (1040)
    Bao phen ngậm lệ kêu thầm
    Nhục phơi mặt tái, sầu bầm dạ tuơng
    Kiều đem - ân oán tỏ tường
    Trả vay cho rõ lẽ thường quả nhân
    Những phường buôn liễu vùi xuân
    Đầu bêu cửa chợ xa gần hãi kinh
    ***
    Thế rồi binh mã triều đình
    Cọp beo là dũng, ngạc kình là oai
    Tướng trời nổi trận gió bay
    Rạng ơn thánh thượng, một ngày giặc tan (1050)
    Thưởng công nàng với thổ quan
    Lênh đênh chèo quế, sóng lam dặt dìu
    Lòng ai tan tác muôn chiều
    Tiền Đường nước bạc gieo liều phù dung
    Chìm vào con nước - năm cung
    Cho đàn hoá sóng não nùng lòng ai
    Tiền căn chưa dứt thiên tài
    Cành vàng lại vướng mẻ chài thiện duyên
    Từ đây khoác áo hương thiền
    Nước dương tẩy oán tan phiền từ đây (1060)
    Mệnh đàn tưởng cuốn tơ dây
    Cửa Không chôn chặt những ngày xa xưa
    ***
    Cuộc đời lắm nỗi tình cờ
    Khi trông không lại, chẳng chờ thì qua
    Từ Kim quẩy sách về nhà
    Chịu tang đất cũ, nhớ hoa đất người
    Nửa năm của lệch gió cười
    Hong đèn – sợ bóng, trông vời – tiếc trăng
    Đoạn tang vội vã vân đằng
    Lòng thu dặm bụi, ngựa băng nội dài (1070)
    Liễu xa những tưởng sầu ai
    Áo bay ráng đỏ, tóc gài mây xanh
    Đàn còn đợi ngẩn ngơ thanh
    Hiên văn sẽ lại nguyên vành trăng hương
    Một chiều giậu


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Kỳ Anh Vũ @ 03:48 11/04/2009
    Số lượt xem: 1033
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

    Trăm năm chốn thế tục này

    Chữ SAY liền với chử SAI một vần

    Những điều em tôi rất cần

    Cần KHÔNG NÁT RƯƠU được chăng em chờ?

    Em chờ cho đến bao giờ

    Bình khô-lửa tắt-đốt thơ tìm chàng

    Tìm chàng ở động hoa vàng

    Áo nâu-chiều tím-Trăng tàn-Sương phai

    Rượu cay sao anh say hoài

    Cung sai mấy bậc nhạt nhoà âm xưa

    NKAV tặng NNTML 

     

     
    Gửi ý kiến